Tuesday, April 19, 2016


Người Pháp biến Sài gòn thành " Hòn Ngọc Viễn Đông " ra sao ?

Người Pháp sau khi chiếm 6 tỉnh Nam kỳ 1862, đào ngay con kênh rất dài, rất rộng phía bắc Sài Gòn, suýt soát lũy Bán Bích 1772. Nhưng họ đã bỏ dở con kênh dài nhất nhưng cũng "bí ẩn" nhất Sài Gòn.

    Người Pháp biến Sài Gòn thành "Hòn ngọc Viễn Đông" ra sao?
    
Một vài góc nhìn Sài Gòn thời thuộc Pháp (từ trái qua phải, trên xuống dưới): Phía sau Nhà hát lớn nhìn ra đường Nguyễn Huệ, Ngã tư Nguyễn Huệ - Lê Lợi, Nhà hát lớn nhìn từ đường Lê Lợi, rạch Thì Nghè khu vực Đa Kao - Ảnh tư liệu.
    Một vài góc nhìn Sài Gòn thời thuộc Pháp (từ trái qua phải, trên xuống dưới): Phía sau Nhà hát lớn nhìn ra đường Nguyễn Huệ, Ngã tư Nguyễn Huệ - Lê Lợi, Nhà hát lớn nhìn từ đường Lê Lợi, rạch Thì Nghè khu vực Đa Kao - Ảnh tư liệu.
    Đó là con kinh do người Pháp đào năm 1862 từ dự án "TP Sài Gòn 500 ngàn dân" 1861 của Trung tá công binh Coffyn.
    Trên bản đồ hiện nay, con kinh này bắt đầu từ đường Trần Quang Khải (Q.1, TP.HCM) thẳng qua giữa rạch Thị Nghè, cắt ngang đầu rạch Thị Nghè, qua đường Cách Mạng Tháng Tám (Q.3), vòng ra sau lưng sân Phú Thọ (Q.11) và đâm xuống và nối với kênh Lò Gốm, chạy sát sau lưng đồn Cây Mai (góc Hồng Bàng - Nguyễn Thị Nhỏ hiện nay).
    40.000 dân Sài Gòn và 5 tỉnh Nam kỳ còn lại được huy động đào kinh này, một số lượng người rất lớn so với dân số Nam kỳ lúc đó cho thấy người Pháp đã kỳ vọng ra sao với nó.
    Tham vọng bị bỏ dở của "kênh Thắt Lưng" cho Sài Gòn
    Mời bạn coi một trong những tấm bản đồ chính xác nhất về Sài Gòn người Pháp vẽ trong thế kỷ 19, đó là tấm bản đồ vẽ năm 1892, đúng 30 năm sau khi Pháp chiếm trọn Nam kỳ lục tỉnh:
    
Bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận 1892 cho thấy kênh Vòng Thành phía Bắc Sài gòn - Chợ Lớn hiện lên rất rõ, bao Sài Gòn - Chợ Lớn thành một cù lao giữa bốn bề sông nước. Và hệ thống một loạt đường sá từ Sài Gòn ra Chợ Lớn hầu như song song với hướng đông nam của cổng chính 2 thành Gia Định - Ảnh tư liệu - Đồ họa và chú thích đối chiếu với đường phố hiện nay: TRỊ THIÊN - M.C
    Bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận 1892 cho thấy kênh Vòng Thành phía Bắc Sài gòn - Chợ Lớn hiện lên rất rõ, bao Sài Gòn - Chợ Lớn thành một cù lao giữa bốn bề sông nước. Và hệ thống một loạt đường sá từ Sài Gòn ra Chợ Lớn hầu như song song với hướng đông nam của cổng chính 2 thành Gia Định - Ảnh tư liệu - Đồ họa và chú thích đối chiếu với đường phố hiện nay: TRỊ THIÊN - M.C
    Con kênh này gần như nương theo lũy Bán Bích của Nguyễn Cửu Đàm cho Quy hoạchSài gòn 1772.
    
Lũy Bán Bích trong Quy hoạch Sài Gòn 1772 trên bản đồ Trần Văn Học 1815 - Ảnh tư liệu - Đồ họa: TRỊ THIÊN.
    Lũy Bán Bích trong Quy hoạch Sài Gòn 1772 trên bản đồ Trần Văn Học 1815 - Ảnh tư liệu - Đồ họa: TRỊ THIÊN.
    Người Pháp gọi đó là kênh Ceinture (canal de Ceinture - kênh Thắt Lưng), dân Sài Gòn hồi thập niên 1960 vẫn gọi là kênh Vòng Thành.
    Con kênh này nối hai đầu rạch Bến Nghé với rạch Thị Nghè, tạo một đường nước bao hoàn toàn vùng Sài Gòn Chợ Lớn, thay lũy Bán Bích 1772. Và như vậy, với rạch Thị Nghè - sông Sài Gòn - rạch Bến Nghé - kênh Vòng Thành, Sài Gòn trở thành vùng cù lao.
    Dự tính của người Pháp không dừng lại ở đó. Kèm theo con kênh, người Pháp còn mở một loạt con đường rất lớn phía bắc kênh, nay là các con đường: Hoàng Văn Thụ, Lý Thường Kiệt, Lạc Long Quân, Lãnh Binh Thăng... Các con đường này đều thông về phía Chợ Lớn theo hướng bắc (các con đường của Quy hoạch 1772 thông theo hướng đông nam).
    Theo học giả Vương Hồng Sển, con kinh này theo kế hoạch "bề ngang 20 thước, bề sâu sáu thước (...). Nhưng công việc dở dang thất bại, và Đô Đốc Bonard đành bỏ nửa chừng công tác ấy".
    Nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển không nói dở dang ra sao và lý do thất bại. Còn Chuyên khảo tỉnh Gia Định năm 1902 (Monographie de la Province de Gia - Định, 1902) thì kinh Vòng Thành đã được đào nhưng toàn kinh chưa được đem vào sử dụng vì bùn đất lên quá nhanh, ghe thuyền không đi được).
    Việc bỏ dở này có lẽ do quy mô con kinh không còn theo ý định ban đầu rộng tới 20m mà nhỏ hơn nhiều. Bởi các bản đồ của Pháp sau đó và bản đồ VNCH đến 1975, con kênh này đều rất rõ, dài khoảng 7-8km.
    
Bản đồ Sài Gòn đến 1975 vẫn còn ghi nhận kênh Vòng Thành rất rõ (màu xanh dương phía trên) - Ảnh tư liệu.
    Bản đồ Sài Gòn đến 1975 vẫn còn ghi nhận kênh Vòng Thành rất rõ (màu xanh dương phía trên) - Ảnh tư liệu.
    Đầu thập niên 90 thế kỷ trước, từ đường Cách Mạng Tháng Tám vô, chúng tôi vẫn thấy nhiều đoạn kênh này dọc đường Bắc Hải (Q.10) vẫn còn bên dãy tường sát Công viên Lê Thị Riêng - Q.10, nhưng chỉ nhỏ như rãnh nước (hiện nay là những dãy nhà nhỏ và không sâu).
    Và đây là ranh giới giữa đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định (hiện là ranh giới quận 10 - quận Tân Bình. Trước 1975, có tấm bảng lớn đặt nơi đây: "Đô thành Sài Gòn kính chào các bạn").
    Vấn đề là tại sao người Pháp giảm nhiệt huyết với con kênh hoành tráng thông thủy cho cả khu vực phía bắc, phía tây Sài Gòn? Cũng như vậy, về phía nam Sài Gòn, con đường Nguyễn Tất Thành chạy ra quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ hiện nay đến 1954 vẫn như một vùng hoang hóa, đầm lầy?
    Qua thực tế, nhiều thế hệ kiến trúc sư, nhà quy hoạch người Pháp gửi nhận định, kết luận của mình cho nhà cầm quyền ở Nam kỳ cũng như chính quốc: Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển mạnh theo hướng đông tây do gắn với nguồn nguyên vật liệu dồi dào, thị trường tiêu thụ cũng như nguồn nhân công? Khu vực phía bắc và nam Sài Gòn không có những ưu điểm này cùng với nguồn nước ngọt thiếu thốn, thậm chí phía nam là vùng bị hoàn toàn bị xâm nhập mặn nặng nề.
    Người Pháp tập trung phát triển Sài Gòn theo hướng đông tây
    Những ngày đầu chiếm Sài Gòn, người Pháp thật ra không phải không có những sai lầm trong quy hoạch, thiết kế Sài Gòn.
    Không chỉ kênh Vòng Thành, nhiều con kênh khác ngay trung tâm Sài Gòn cũng đã được đào và cũng nhanh chóng bị lấp: kênh Lớn (Grand canal - dân Việt gọi là kênh Chợ Vải vì bên dòng kênh là chợ Vải, mà nhiều người nhầm cho đó là chợ Bến Thành cũ) đào năm 1867, lấp 1887 (thành đường Nguyễn Huệ hiện nay); kênh Coffyn (lấy tên Trung tá công binh Coffyn lập Quy hoạch "Sài Gòn 500 ngàn dân" 1862) lấp năm 1892 (thành đường Lê Lợi hiện nay)...
    Nhưng quan trọng hơn, người Pháp đã nhanh chóng nhận ra một điều: không phải ngẫu nhiên mà người Việt tập trung phát triển Sài Gòn theo hai hướng đông tây.
    Thế là hàng loạt đường phố, kênh rạch, cầu... khu vực đông, tây Sài Gòn được xây dựng.
    Dọc rạch Bến Nghé từ Sài Gòn ra Chợ Lớn, một con đường được xây dựng mà người Việt lúc đó gọi là đường Dưới (so với đường Trên - đường Nguyễn Trãi hiện nay).
    Hai bên rạch Bến Nghé hình thành một loạt bến bãi chạy dài từ Sài Gòn ra Chợ Lớn, không chỉ là đường đi mà còn là đường vận chuyển hàng hóa Sài Gòn - Chợ lớn - miền Tây: Bến Bạch Đằng, Hàm Tử, Chương Dương, Vân Đồn, Bình Đông...
    Tuyến đường sắt đầu tiên của Đông Dương (và là tuyến đường sắt thứ hai do người Pháp xây dựng ở nước ngoài, sau tuyến đường sắt 13km ở Pondichéry, Ấn Độ, 1879) chạy từ ga Sài Gòn (lúc đó nằm ở Công viên 23-9 hiện nay) về miền Tây: Sài Gòn - Mỹ Tho, dài 70km hoạt động từ 1885.
    (Hành khách và hàng hóa đi tuyến này nhiều đến mức sau 3 năm, Thống đốc Nam Kỳ quyết định lấy lại quyền khai thác tuyến đường này từ 1888, sau khi đền bù hơn 300.000 francs. Năm 1896, tổng lãi thu được từ tuyến đường sắt là 3,22 triệu francs, năm 1912 lãi 4 triệu francs).
    Ở phía Tây, bên cạnh hai tuyến thủy bộ từ Sài Gòn đi Chợ Lớn, miền Tây của người Việt trước đó (đường Nguyễn Trãi, rạch Bến Nghé, kênh Tàu Hũ...), đến bản đồ 1892, chúng ta đã thấy con đường từ giữa thành Gia Định ra (Nguyễn Thi Minh Khai ngày nay) đã được nối dài sang tận giữa Chợ Lớn.
    
Bến Bạch Đằng đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu.
    Bến Bạch Đằng đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu.
    Một con đường khác, đường Điện Biên Phủ ngày nay chạy song song với Nguyễn Thị Minh Khai cũng tiến về Chợ Lớn.
    Đường 3-2 ngày nay đã vượt qua Cách Mạng Tháng Tám và đến 1892, rõ ràng vẫn đang tiến tiếp về phía Chợ Lớn, miền Tây.
    Có lẽ lượng hàng hóa và người qua lại giữa Sài Gòn và miền Tây phát triển nhanh, khu vực đầm lầy giữa Sài Gòn - Chợ Lớn mà sau này trở thành đại lộ Trần Hưng Đạo cũng được san lấp ngay sau khi chợ Bến Thành khai thị 1914 nhằm tăng mạnh hàng hóa giữa hai thành phố cũng như với miền Tây.
    Về hướng đông, cầu Bình Lợi, cây cầu đầu tiên vượt sông Sài Gòn hướng ra miền đông cũng được đưa vào sử dụng năm 1902, rút ngắn tuyến đường đi Thủ Đức, Biên Hòa, các tỉnh miền Trung, miền Bắc, thông với đường thiên lý Bắc Nam của người Việt xưa.
    
Cầu Bình Lợi trên đường ra Thủ Đức, Biên Hòa đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu.
    Cầu Bình Lợi trên đường ra Thủ Đức, Biên Hòa đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu.
    Quy hoạch "Sài Gòn 500 ngàn dân" của Trung tá công binh Coffyn - 1862
    (Khi Pháp chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh).
    - Thành Phố Sài Gòn nằm trong bốn đường nước (bản đồ 1892 phía trên).
    - Quy hoạch phân lô các loại đất: Cụ thể hạng nhất (nhà buôn nhỏ trên bến cảng): 10x12m =120m2; hạng hai (nhà buôn lớn trên bến cảng): 20x20m = 400m2; hạng ba (nhà ở trong đô thị): 20x80m = 1600m2; hạng tư (nhà ở ngoại ô): 9x50m = 450m2.
    Đường Catinat (Đồng Khởi hiện nay) do người Pháp tôn tạo từ một con đường xưa trước thời thuộc Pháp - Ảnh tư l iệu.
    Đường Catinat (Đồng Khởi hiện nay) do người Pháp tôn tạo từ một con đường xưa trước thời thuộc Pháp - Ảnh tư l iệu.
    - Đường Imperial (Hai Bà Trưng ngày nay) là trục đông-tây của Sài Gòn. Đông: khu hành chánh, từ Hai Bà Trưng cho tới rạch Thị Nghè, rộng khoảng 2km2. Tây: từ Hai Bà Trưng ra tới Chợ Lớn, gồm cả Sài Gòn, rộng 23km2: khu thương mại, dịch vụ, công nghiệp..
    - Quy hoạch đường sá, bến cảng: chiều rộng của các đường phố chính 40m, vỉa hè hai bên rộng 4m có hai hàng cây mỗi bên; đường phụ 30 m, vỉa hè 2m, mỗi bên trồng một hàng cây. Các bến sông Sài Gòn cũng như rạch Bến Nghé, rạch Thị Nghè rộng 40m, vỉa hè 6m, trồng hai hàng cây ở hai bên.
    - Quy hoạch về hệ thống nước, cung cấp nước tiêu dùng, thoát nước: do địa hình Sài Gòn bằng phẳng, không cao hơn mặt nước, lại có triều cường nên không cho phép đặt những đường ống cống bình thường mà là những ống cống với cửa cống đóng mở tự động…
    -Quy hoạch về an ninh phòng thủ..







    Sunday, April 17, 2016

    NỖI BUỒN XA XỨ- 
    Réquiem tháng 4 -
    Ca khúc Nguyễn Trọng Khôi -- tác giả trình bày -


    Từng bầy chim bay đi xứ xa -
    Mang theo bao nỗi nhớ nhung về quê nhà -
    Mịt mờ chim bay trong trời bão tố -
    Mênh mông không biết chim bay về đâu -

    Ðời còn tơ vương bao luyến thương -
    Ngậm ngùi tan theo trong gió mưa biệt ly -
    Thương quá bao duyên tình đã qua -
    Thương quá bao tâm hồn xót xa còn trong mái nhà -

    Rồi đây đi khắp nơi xa vời xa xứ người -- 
    Tìm đâu cho thấy bao ân tình xưa mất rồi --
    Lòng đắng cay, tình đã phai --
    Còn chút hương nào cho người --
    Mùa xuân phơi áo thê lương khắp chốn ngàn phương buồn nhớ -
    Nhớ thương từng phút giây ngày tháng qua tầm tay --

    Miệt mài chim bay gieo khắp nơi --
    Trong tim yêu tha thiết bao la con người -- 
    Bạc lòng nhân gian mây mù u tối --
    Bâng khuâng không biết chim bay về đâu -- 

    Ngậm ngùi bay đi xa rất xa --
    Tìm hạt sương rơi trong nắng mai vàng tươi --
    Xin giữ như bao điều ước mơ -- 
    Xin giữ cho cõi lòng thiết tha tình yêu với người -

    * Nghe bạn hát sáng nay..Như hạt sương ngậm ngùi rơi trong nắng ban mai..
    Bạn. Dù lâu lắm, rất lâu chúng ta không gặp nhau, nhưng biết nhau vẫn bình yên là niềm vui , là hạnh phúc mà cuộc sống, đến chừng tuổi nầy vẫn còn được nhận bằng nỗi ưu ái của cuộc đời.
    Bạn. Tháng Tư, Với chúng ta luôn là vết thương, thầm lặng mà đau đớn. Chúng ta, suốt đời là những loài chim xa xứ. Suốt đời bay, cánh mỏi. Suốt đời tìm, thê lương.







    Saturday, April 16, 2016

    Những ngày bị thương nằm Tổng Y Viện Cộng hoà.

    Tháng 4 năm 72


    Nằm cạnh cửa sổ, bên ngoài là hành lang, nơi khu điều trị có tên Tổng Quát 7 của Tổng Y Viện Cộng Hoà. Phòng tương đối rộng, chứa được 3 giường. Tôi may mắn được nằm ngoài bìa. Nhìn lên mái nhà lợp ngói, rợp bóng lá Me, Điệp xanh mát, lúc này những vết thương đã bớt đi phần nào đau đớn, tôi đợi chờ nghe những bài hát yêu thích vẳng ra nhè nhẹ từ những chiếc loa nhỏ đặt dọc theo mái nhà ngoài hành lang. Hồi ấy, tôi vẫn nghĩ là có lúc tôi phải lên chỗ phòng phát thanh, để biết ai là người đã cho phát thanh những băng nhạc rất hay mà tôi, và có lẽ nhiều người khác cũng yêu thích. Người đó chắc hẳn cũng đẹp trai. Hoặc đẹp gái. Và biết thưởng thức âm nhạc. Tôi nghĩ thế. Luôn để nhạc bắt đầu khoảng 11 giờ sáng. Rất êm dịu, vừa đủ nghe. Đôi khi ngưng khoảng nửa tiếng như để những đôi tai ghiền nghe nhạc háo hức đợi chờ. Buổi sáng. Sau khi những thương bệnh binh đã chấm dứt xong phần khám bệnh, thay băng. Cũng là lúc những bài hát tiền chiến, Trần Thiện Thanh, Phạm Duy, bắt đầu cất lên. Ngày ấy tôi hay nằm đợi bài Cô hàng nước, Cô hàng chè xanh. Cô hàng cà phê. Sĩ Phú hát. Còn bài Cây đàn bỏ quên thì Duy Trác hát. Phải chăng vì vậy mà tôi có giọng hát giống Sĩ Phú. Bạn bè nói vậy. Tôi thì chẳng bao giờ nghĩ mình được như Sĩ Phú. Anh có giọng hát trầm ấm lôi cuốn người nghe. Một người khiêm tốn và nghệ sĩ. Còn tôi chẳng là gì cả. Cho đến bây giờ vẫn tiếc là ngày ấy không đi lên phòng phát thanh coi người phụ trách âm nhạc ấy là ai? Nam hay nữ mà để nhạc có " tâm hồn" quá chừng.
       Nằm nhìn qua cửa sổ thật là thú vị. Thấy buổi trưa, chiều, và tối qua dần. Bên ngoài những hàng cây râm mát là con đường nhỏ, đôi khi có những tà áo dài dìu người yêu, hay chồng, tay chân băng bó, hoặc ngồi trên xe lăn, đi chầm chậm. Thật trữ tình và đẹp đẽ như câu hát: gió heo may đã về, chiều tím loang vỉa hè...
       Nhưng nếu nhìn xa hơn một chút. Bên kia con đường. Là khu Tiết niệu hàm mặt nơi những người được điều trị vì những vết thương trên mặt và đường bài tiết. Họ ít khi ra ngoài. Có lúc tôi bắt gặp họ ngồi đó. Gục đầu, buồn bã.

       Xa hơn nữa về phía tay trái. Là khu Tổng Quát 4. Là nơi những thương binh bị cụt chân hay tay. Đã điều trị lành và đang đợi tái khám hoặc ra hội đồng Y Khoa. Họ cũng ít ra ngoài. Không như bên trại của tôi là những thương binh không nặng lắm. Nên sau vài tuần là đi tới đi lui như giặc, ngồi ngóng người yêu hoặc người nhà tới thăm. Đám lính tráng chúng tôi thằng nào cũng khoảng 24, 25 đổ lại, đa số đều có người yêu chứ rất ít thằng có vợ. 
        Nên mấy tay độc thân được hưởng cái hạnh phúc là ngắm và tán dóc với người yêu của...người khác.
        Vì vậy không lạ lắm mỗi khi tôi có người đẹp đến thăm. Vô số tên lạng qua lạng lại trước cửa phòng, hoặc giả vờ vào hỏi chuyện rồi ngồi luôn tán dóc. Không cần biết rằng sự có mặt của họ vô cùng thừa thãi, và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thì giờ vàng bạc của đôi trẻ.
       Nằm chung phòng với tôi là một trung uý chi đội trưởng chiến xa đánh ở Bình Long. Khi tôi tỉnh lại hai ngày sau khi đưa về từ chiến trường, thì anh cũng được đưa từ phòng hồi lực sang. Bị thương vì bị trúng B40 , phải cưa một chân ngang ống quyển. Chắc vẫn còn đau nên rên la mê sảng cả đêm, không biết kẹt ở mặt trận bao lâu mà sáng hôm sau, khi người y tá gỡ băng rửa vết thương cho anh, dòi rớt ra cả chục con. Tuần lễ sau đỡ dần. Người bạn thứ ba cùng phòng than thở: hai ông kêu la cả đêm, hết người này (tôi) gọi Pháo binh xong thì cha Thiết giáp kia kêu bắn trực xạ. Anh này ở vùng 4. Thiếu uý an ninh quân đội. Chở vợ đi chơi bị té xe. Vợ không sao. Chồng bị đập đầu xuống đường, bể sọ may không chết. Nằm cũng được 3 tuần rồi. Nhiều lúc mê sảng toàn nhắc tới đồ nhậu. Trong đó có món rắn xào bầu. Lâm, anh bạn thiết giáp nói với tôi: Mẹ! Thằng đó chắc nhậu dữ lắm nên nhắc món nhậu hoài. Mà rắn xào bầu đâu có ngon. Thây kệ, lâu ngày nó thèm. Tôi nói.
       Khi cái chân bình phục, ăn da non, tấp tểnh chống nạng đi được rồi Lâm bắt đầu cười nói ồn ào.. Anh tướng tá to lớn bậm trợn. Nói năng thiệt thà. Kể chuyện lúc chỉ huy và đụng trận không biết mệt. Nhưng tôi nhìn thấy, sau những niềm vui mà anh đã có với bạn bè trong những lúc nguy nan, và hăng say quên mình nơi nhiệm vụ. Là nỗi buồn u uẩn cố nuốt xuống của anh. Vì hơn ai hết, anh biết rằng anh không thể còn trong quân ngũ được nữa. Anh đã là một thương phế binh. Ý nghĩ đó nhói lên như mũi dao đâm vào ngực khi tôi nghĩ tới cánh tay phải bất động của mình. Nên tôi chí cốt tập vật lý trị liệu. Sau mấy lần nghỉ 29 ngày tái khám, cánh tay tôi hồi phục khá nhiều, tuy vậy vẫn phải làm đơn về phục vụ đơn vị, vì "bị" cho ra loại 2 không tác chiến.
       Lúc tỉnh lại. Cảm giác đầu tiên là khát nước kinh khủng. Tay đang được truyền máu. Và em đang ngồi một bên, mắt khóc lo âu. Cho anh uống nước, không chết đâu. Tôi nói.
    Và em cho tôi uống hết chai Limonade. Em nói. Anh mê man suốt hai ngày rồi. Bác sĩ dặn lúc anh tỉnh dậy chỉ cho uống từng muỗng nước thôi, sợ vết thương ra máu.
    Sau đó tôi mới nhìn thấy Hiếu. Người lính mang máy truyền tin của tôi ngồi cuối giường. Người vẫn còn quá yếu, nhìn gì cũng lờ mờ. Tôi lại thiếp đi sau đó. Cả tuần lễ sau em phải đỡ tôi mới ngồi dậy được.
       Đại đội phó của tôi cho Hiếu ở trong bệnh viện để chăm sóc tôi, thời gian đầu. Được tuần lễ sau khi tôi tỉnh lại, nó buồn nhớ đơn vị, muốn về. Tôi nói để tao viết trong tờ Sự vụ lệnh của mày, xin ông Toàn (đại đội phó, giờ đang xử lý thường vụ đại đội trưởng) cho ở đây ít ngày nữa. Dưới đang đánh lớn, về bây giờ là lên bàn thờ ngồi đó mày. Đại đội tôi thương vong gần hết sau hơn một tháng trời giao tranh. Hiếu tánh tình hiền lành nhưng gan lì. Hạ sỹ nhất mang máy truyền tin. Sau một thời gian tôi chỉ dẫn. Nó có thể chấm toạ độ rất chính xác để tôi xin bắn pháo binh, lúc đang bận rộn bố trí đội hình tác chiến với với các trung đội trưởng khi đụng trận. Nhưng tới cuối năm 73, trong một trận đi đột kích đêm. Nó bị một viên đạn ngay tim. Lúc tấn công tôi chạy phía trước, nó mang máy chạy sau. Chẳng hiểu sao đạn lại trúng nó chứ không trúng tôi. Đúng là trời kêu ai nấy dạ.
       Hàng ngày, vào khoảng 8 giờ sáng là giờ y tá đến thay băng. Hai ông y tá một ốm một mập, cả hai đều sanh ở miền Tây, vừa thay băng vừa nói chuyện vui, chắc để bệnh nhân đỡ đau khi nghe chuyện. Họ làm việc cẩn thận và gọn gàng, nhiều lúc tôi phát la lên vì anh dựt băng cũ ra quá nhanh. Anh còn cười và nói: sao tui không thấy đau gì hết. Nhưng sau đó anh giải thích, tuỳ theo chỗ, có chỗ nếu gắp băng ra từ từ tôi sẽ đau hơn. Tôi cũng đồng ý với anh. Tôi thường xin anh thuốc ngủ và thuốc giảm đau Darvon vì các vết thương hành đau dữ quá. Anh cho tôi loại thuốc ngủ gì tôi tôi không nhớ tên, nhưng rất mạnh vì chỉ khoảng năm mười phút sau khi uống là ngủ liền.
       Những khu nhà nguyên thuỷ của Tổng Y Viện đều là những kiến trúc của Pháp. Nhìn chắc chắn và mỹ thuật. Một căn nhà như vậy gồm 20 phòng, kể cả phòng của y sỹ trưởng và phòng của y tá. Sơn vàng, mái lợp ngói. Như màu của bưu điện Sài Gòn ngày xưa. Vì tình hình chiến sự leo thang, nên đã xây thêm khu Tổng quát 3, lớn hơn. Và hai tầng chứ không như khu nhà cũ. Tôi lại không thích mấy, vì họ xây theo kiểu Mỹ, nhìn thoáng đãng và sạch sẽ nhưng tương phản với những ngôi nhà xung quanh. Tổng Y viên có hệ thống loa phát thanh thiết kế rất đầy đủ để có thể gọi tên bệnh nhân trong trường hợp cần thiết. Đôi khi lang thang qua câu lạc bộ hay thăm bạn bè ở dẫy khác. Anh Phan Nhật Nam cũng nằm điều trị tại đây một thời gian ngắn. Tôi nghe nhiều lần loa gọi: "yêu cầu đại uý Phan Nhât Nam hiện đang ở trại nào, xin trở về Tổng quát 7 gấp. Có y sỹ trưởng cần gặp". Tôi thì biết chắc chắn anh đang ở...nhà. Ở trong bệnh viện buồn quá, lúc sức khoẻ khá hơn tôi cũng "dù" về nhà vài lần. Mặc dầu có Quân cảnh gác nhưng năn nỉ họ cũng cho ra hoặc làm lơ. Mấy cha thương bệnh binh mà, để họ về nhà cho gia đình vui. Một người Quân cảnh thân với tôi đã nói như vậy.
       Cuối tuần. Hai ngày thứ bảy và chủ nhật hay có những phái đoàn của học sinh các trường trung học tới thăm và tặng quà cho lính. Tất nhiên là lính rất khoái vì ngoài quà tặng còn được những người đẹp tới trò chuyện, đôi khi có ca hát "bỏ túi" rất là "ấm lòng chiến sĩ". Nhiều mối tình tất nhiên đã nở ra. Phái đoàn của Hạ viện thường đi với phu nhân của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là một phái đoàn thăm thương bệnh binh rất thường xuyên. Tôi vẫn còn nhớ một cô tên Mai. Thật dễ thương, đẹp và gần gũi với lính. Mỗi lần tới thăm tôi đều được cô cắt móng tay, có một lần hớt tóc nữa.
       Cơm nhà thương cũng không tệ. Lúc nào cũng có canh, rau xào và món mặn như thịt kho trứng, cá chiên, hay một miếng gà chiên hoặc kho. Kho là nhiều nhất trong tuần, vì chắc dễ làm hơn. Trưa và chiều, hai bác nhân viên đẩy xe đồ ăn dọc theo hành lang mang tới tận giường. Nhưng chắc vì thành kiến với cơm bệnh viện nên nhiều tay bệnh binh vẫn ngóng đợi cơm nhà, hoặc mò xuống hội quán của Tổng y viện ăn mì, hủ tíu. Nên xe cơm của hai bác thường là ế. Khi đêm xuống, đôi khi cũng có người bán mì gói, cà phê, bánh ngọt. Lâu lâu tôi mới gặp họ đi ngang chỗ nằm. 
       Tôi số hơi cực. Ra vào Tổng Y Viện cũng mấy lần. May không có lần nào bị nặng. Và cũng thuộc loại "con bà phước" nên ngoại trừ khi có người quen vô thăm, thì cũng ngồi tương tư những bóng hồng đó mà thôi. Lính thật ra chẳng phải hào hoa, ngon lành như trong mấy bài hát của Hùng Cường-Mai Lệ Huyền. Đi chiến đấu cực khổ, chui rừng rúc bụi, đưa ba mươi sáu cái xương sườn ra đỡ đạn. Lúc về thành phố đa số thằng nào cũng thấy cô đơn. Túi tiền thì ít. Nên sinh ra mặc cảm. Từ đó sinh ra đánh lộn đánh lạo phá phách. Không ít thằng đi tác chiến coi đơn vị là gia đình thứ hai. Trong đó có tôi. Đời lính sống chết làm cho anh em thầy trò thương nhau. Cái tình cảm đó khó diễn tả thành lời. Những ngày bị thương, nằm vừa đau vừa nhớ đơn vị quay quắt. Đại đội phó và hai trung đội trưởng của tôi tử thương. Đại đội trên trăm còn lại có mười mấy người. Phía Bắc quân thiệt hại nặng nề, vì lính của họ đa số đều trẻ quá, không có kinh nghiệm chiến trường nên trong nhiều trận đụng độ, phe ta chiến thắng dễ dàng. Những thương binh và tù binh chúng tôi bắt được chỉ toàn ở trạc tuổi 15,16. Vậy mà đưa Pall Mall cho hút, lại chê là không ngon bằng Thăng Long. Loại thuốc lá đó chúng tôi đâu lạ gì, hút thử cho biết mà chẳng ai hút được vì khét lẹt, dở vô cùng. ĐM, thuốc đó hôi khét, xách dép cho Bastos xanh của tụi tao. Thằng em mang máy chửi.    

       Nhưng điều đáng nói là vũ khí của họ đều mới toanh, và rất "hiện đại" nói theo kiểu bây giờ. Từ trung liên RPD, AK47, súng B40, B41, máy truyền tin, đều mới như vừa lấy trong hộp ra. Có 2 khẩu súng cối 61mm mà sau khi quan sát, tôi nhận thấy gọn nhẹ và linh hoạt, ở chỗ bộ máy nhắm gắn thẳng vào thân súng. nên bắn rất nhanh so với súng cối 60mm của mình. Đặc biệt nhất trong số vũ khí chiến lợi phẩm là 2 khẩu 82 không giật, loại súng mà lần đầu tiên chúng tôi nếm mùi lợi hại của nó. Sau này, trong trận đánh năm 74 tại Đồng Ớt, Trảng Bàng, họ bắn chúng tôi với một loại súng không giật khác. Chẳng biết hình dáng mặt mũi nó ra sao. Từ tiếng đề pa đến lúc nổ nhanh như chớp. Chỉ lấy được chuôi đạn, áng chừng nó cỡ chừng 100 mm. Giao lại cho phòng 2 Tổng Tham Mưu. Rồi sau cũng chẳng thấy trả lời là súng gì?
       Vì vây khi đụng trận,bên "phe ta" chỉ nghe tiếng M16 và tiếng lóc cóc của phóng lựu M79. Thì bên kia là B40, B41, 82 không giật, nổ rền trời như sấm. Cay đắng mà nhìn nhận rằng.Từ năm 72. Vũ khí của chúng ta
     thua xa so với họ. 
        Đơn vị tôi thường đi đánh giải toả những thôn làng bị Cộng quân đóng chốt, từ đó tôi nhận thấy người dân những vùng "xôi đậu" ngày Quốc Gia, đêm Cộng sản, họ khổ trăm bề. Tính mạng họ nói nôm na là treo sợi tóc vì những oan khiên có thể đổ ập xuống bất cứ lúc nào, tôi đã thấy cái chết của những thiếu nữ trong tuổi thanh xuân, chết ngậm ngùi như "Người con gái Việt Nam da vàng" của Trinh Công Sơn. Hôm đánh "chốt" trước khi bị thương khoảng hai tuần. Khi chiếm được bìa ấp, một thằng em bắn M72 vào một căn nhà ngói nhỏ vì thấy đạn AK sau nhà bắn ra. Xong ập vào lục soát kéo lên từ hầm trú ẩn hai ông bà già lưng còm trơ xương, lập cập khóc lạy ông quan tha mạng. Con cái không có, giặc vào không có sức mà chạy. Mà chạy chưa chắc họ cho đi. Giữ dân lại để làm lá chắn, đó là chiến thuật sở trường của họ. Tôi bỏ ra hông nhà đứng nhìn cây rơm cháy dở chẳng biết nói gì. Móc túi còn được đâu nửa tháng lương, đưa cho ông bà cụ như phần nào bù đắp. Chiến tranh mà, họ biết kiện cáo ai bây giờ. May mà không chết vì đạn M72. Đơn vị hành chánh sở tại sẽ giúp đỡ làm lại nhà cửa cho họ. Còn mất mát về nhân mạng thì không thể bù đắp được.
        Chiều đó sau khi mục tiêu kết thúc. Bố trí quân nằm lại, tôi uống một ly cà phê trong khẩu phần Ration-C. Nghe bài Giọt nước mắt cho quê hương từ chiếc máy cassette nhỏ luôn mang theo trong ba lô, thấy quê hương tôi đầy đêm đen và những đám tang.  Một đất nước luôn chiến tranh với những con người khốn khổ. Có nằm trong bệnh viện, đau đớn với những vết thương, nhìn những giọt máu được chuyền vào thân thể đang khô cạn sinh lực. Mới cảm nhận thấy thế nào là "khô dòng máu châu thân". Và "dân mình phận long đong 
       Và dân mình vẫn long đong từ đó tới giờ. Chưa kể là chưa biết chừng nào sẽ rơi vào tay Tàu cộng.

    ( Nguyễn Khôi Việt)
    Ngày đó 2 tháng 5.
    Đi
    Tôi và những người bạn sĩ quan bị bắt vào giờ thứ 25, đêm 30-4 tập trung tại một trường học. Trưa ngày 1 tháng 5 được ra gặp em. Em mắt khóc tiều tuỵ, đứng cách nhau hàng rào kẽm gai. Mất nước rồi anh ơi. Câu nói lập đi lập lại của em ngập với chan hoà nước mắt được đứng với nhau 15 phút ngắn ngủi, chẳng nói được với nhau thêm điều gì. Cuối tháng chưa có lương, chỉ có đúng mười ngàn đưa cho em vì biết chắc rằng sẽ chẳng có gì để mua bằng tiền của miền Nam Việt Nam được nữa.
    Sáng 2 tháng 5 . Bị dẫn đi về hướng bờ sông Vàm Cỏ Đông. Không biết sẽ đi đâu, chúng dẫn đi dọc theo thị xã, vẫn có người dân chạy theo dấm dúi cho chúng tôi chiếc áo, đôi dép, mặc cho đám vệ binh hầm hừ quát tháo. Nhớ hoài cô bé mặc chiếc áo sơ mi còn huy hiệu của trường trung học, chạy theo đưa cho tôi chiếc bánh tét và đôi dép, nước mắt đầm đìa: Anh ơi, mất nước rồi. Y hệt như câu em của tôi hay nói.
    Cuối cùng sau hơn nửa tháng đi bộ, băng qua những xóm làng giáp biên giới bị Việt Cộng chiếm từ 72. Những đứa trẻ ốm gầy khẳng khiu, quần áo tả tơi nhưng vẫn chạy theo đám tù binh ném đá và chửi: Tù binh ngoan cố. Chúng tôi tới một trại tù nằm bên kia biên giới Miên, giáp Phước Long. Trại tù đầu tiên của nhiều lần chuyển trại tù sau đó. Trại Nước ngập. Cái tên nghe nhiều khủng bố đe doạ. Bước vào trại, kinh hoàng thêm khi nhìn thấy những thân hình gầy guộc,với những khuôn mặt xanh xao như ma đói, không còn chút sinh khí nằm trên chõng tre, sâu dưới tàn lá của cây rừng rậm rạp, mà tia nắng mặt trời không qua lọt. Nơi đây đã giam giữ những người tù binh trong chiến tranh.
    Tôi và em. Đến khi gặp lại nhau lần đầu tiên khi được thăm của tháng 8 năm 1977. Mới biết rằng trong buổi sáng ngày tháng 5 tang thương đó. Em đã chạy theo tôi băng đồng, qua suối, qua những trảng ruộng khô nắng bốc khói của ngày tháng 5 để mong được nhìn thấy chồng lần cuối. Vì biết đâu sẽ không bao giờ thấy nhau lần nữa.
    Thương em như câu hát: ơn em thơ dại từ trời, thơ dại từ trời, từ trời theo ta, theo ta từ trời. Xuống biển lượm đời, lượm đời ta lên ...
    Và phần thứ hai, xin các bạn đọc những cảm xúc, ý nghĩ của em tôi ngày ấy. Trong binh biến tao loạn mà chạy từ Sài Gòn xuống kiếm chồng bất kể chết. Và tôi chắc chắn. Trong thời gian đó. Cũng có trăm ngàn người vợ lính cơm nắm cơm gói, không quản thân mình cam go cùng khổ để kiếm cho ra người chồng lính của mình dù rằng chỉ còn là một thân xác rữa nát.

    ( Nguyễn Khôi Việt )

    Thursday, April 7, 2016

    Tháng Tư

     *Đọc chúc thư của một người bạn thơ


    Chúc Thư
    ( Túy Hà )

    Gói hộ dùm ta mảnh huyết bào
    Vào trong yếm thắm buộc quai thao
    Để nhớ một thời không chiến bại
    Trò chơi sinh tử tựa chiêm bao

    Chôn hộ dùm ta đoạn tiểu đao
    ng trăng thiên cổ những năm nào
    Để cho vầng sáng vây huyệt lạnh
    Ấm lại hồn ta đã ba đào

    Cải táng dùm ta xác ngựa già
    Bên sông dưới núi, địa linh xa
    Thương quá một đời công hãn mã
    Cùng ta ngang dọc giữa ta bà

    Riêng em nhớ giữ dùm trong áo
    Một chút tình ta rất thật thà
    Thể phách muôn đời là tro buị
    Tinh anh hoa gấm vẫn sáng lòa.

    Gói, chôn, cải táng hay giữ hộ
    Xin nhớ đề danh : lính da vàng.

     Bài " Chúc thư " trích trong tâp thơ ' Dã quỳ vẫn nở" là tác phẩm mới nhất của Túy Hà,  ngoài những tập thơ đã xuất bản , góp thêm trong vườn hoa văn chương hải ngoại những hương vị lạ lẫm, vừa tha thiết, vừa xót xa từ những  " Tình gầy " ( Thơ ) Tình yêu lang thang và chiến tranh ( Thơ) Trên đồng lau trắng ( Tùy bút ) Những nẻo đường hành quân ( Ký sự dở dang ) Vàng lên nỗi nhớ ( Thơ nhạc ) rực rỡ đời thường ( Hợp tuyển ) Dấu ấn da vàng ( Thơ) Lối cũ vẫn trong tim ( CD thơ viết chung )

    Tuý Hà. một thi sĩ, một người lính Biệt kích dù ." Anh mang phong cách của một  tay giang hồ kỳ hiệp, những hào kiệt sa cơ thất thế, chịu đựng muôn vàn vùi dập, trên thân thể cũng như thân thế, đã mang bao vết thương đau đớn của lịch sử" ( nhận xét của anh Phương Triều trong phần vài cảm nghĩ về thơ Tuý Hà )
    Anh Túy Hà..Cám ơn anh bài  " Chúc thư", trong những ngày tháng tư, nó gợi trong mỗi người chúng ta nỗi cùng cực bi thương , nỗi oan khiên khi vận nước điêu linh, cũng như anh "Cứ mỗi tháng tư
    thẩn thờ nhớ lại
    Người mất quê hương là mất cả yên bình.." ( Thơ Tuý Hà )

    Làm sao chúng ta có thể yên bình, làm sao các anh có thể, khi ...suốt đời, mang tên..Anh lính da vàng ?





    Chuyên của hai cái mỏ
    ( Hữu Việt )
    Tháng 19 năm 75
    Cậu ấy hỏi tôi nhiều lần để xin lon sữa Guigoz mà tôi dùng để đựng đồ ăn như mấy củ khoai Mi, khoai Lang lúc đi làm rẫy. Cho dù nó còn mới, nhưng cái lon Guigoz ấy đối với tôi và những người bạn tù khác chẳng có một giá trị kinh tế tiền bạc nào ngoài việc dùng nó để đựng đồ ăn, nước uống. Trung, tên cậu ấy. Một trong số 4 vệ binh canh gác và dẫn chúng tôi đi "lao động". Tôi cũng có cảm tình với Trung. Vì dù là vệ binh, nhưng Trung nói chuyện với chúng tôi rất lịch sự, nếu không nói là lễ phép. Tôi chẳng tiếc gì, nhưng nếu cho đi thì tôi chẳng có gì đựng mấy củ khoai hay canh rau đi làm.
    Đến một hôm. Tôi đành phải hỏi: sao chú cần cái lon đó dữ vậy? Anh chẳng tiếc gì đâu. Nhưng nếu cho chú thì anh chẳng có gì đựng đồ ăn cả. Cậu ta trả lời: em muốn xin anh để mang về cho bố em làm bình cắm hoa.
    Câu trả lời ngoài sự tưởng tượng của tôi. Nó gây cho tôi sự xúc động tới nỗi tôi vội vàng đi chà rửa cái ống lon đó kỹ càng, và đưa cho cậu ta. Tôi không bao giờ có thể ngờ được rằng một vật bình thường của người miền Nam, lại quá giá trị với một người bộ đội miền Bắc như vậy.Từ ấy, tôi và bạn bè có một cái nhìn thương cảm hơn với họ. Đời sống dân miền Bắc chắc hẳn rất nghèo nàn lạc hậu. Hà có lẽ sinh trưởng ở miền quê.
    Công việc chính ở trại này là chăm sóc một ruộng mía khá lớn. Cứ khoảng hai tuần là mười mấy thằng tù vác mía ra chợ Katum cách trại khoảng 2 cây số. Bán cho ai cũng chẳng rõ. Một hôm Trung nói với tôi: lúc nào đi với các anh vác mía ra chợ Ka Tum, em thế nào cũng uống một cốc cà phê đá, em nghe chúng nó nói cà phê đá ngon lắm.
    Tôi hỏi: vậy chú chưa uống cà phê đá bao giờ sao?
    Trung thú thật là cậu ấy chưa bao giờ được uống. Mới chỉ nghe bạn bè nói là ngon lắm mà thôi.
    Rồi Trung cũng đã uống được ly cà phê đá mơ ước ngoài chợ Ka Tum. Chắc là ngon lắm đối với cậu ta. Nên có một hôm người vệ binh trong nhóm họ, xuống mượn tôi cái pha cà phê (mà em mang cho tôi trong lần thăm "chui" với một nửa ký cà phê, dân Bảo Lộc mà) Trung tất tả chạy đến gặp tôi:
    Anh coi giùm em, sao cà phê uống nó chẳng ra sao cả.
    Tôi vào trong lán của họ. Ba người vệ binh quây chung quanh ca cà phê, mặt mũi ngượng ngùng. Tôi cầm phin cà phê lên xem, hỏi xong mới biết là họ không lấy cái chặn cà phê ra, cứ để vậy rồi bỏ cà phê vào, sau đổ nước sôi, không thấy cà phê chảy xuống bèn quậy tùm lum. Nên nước cà phê đục ngầu, uông không được.
    Năm 78 Tôi bị đưa xuống U Minh để làm ruộng cùng với một nhóm bạn tù. Tới đầu kinh 7 trời đã sập tối. Cả bọn được nghỉ lại trong một căn nhà, tôi nghĩ trước là vựa lúa của ai đó nay bỏ không. Khoảng chín hay mười giờ,có hai người mà tôi đoán là hai cha con tấp xuồng vào xin vệ binh cho nghỉ nhờ. Người cha chắc trẻ hơn tôi vài tuổi, nói năng cũng đàng hoàng chân thật. Anh nói vài tháng nữa bán mấy con "lợn" xong anh về Bắc thăm quê. Đi mấy năm rồi cũng nhớ nhà. Nếu thu xếp được đưa cha mẹ vào. Nghe nói quê em bây giờ "phất" lên lắm. Từ ngày nhà nước đào được hai cái mỏ, một cái mỏ "nen" với một cái mỏ sợi, xe cộ cứ vào chở "nen" với sợi ra ùn ùn.Tôi nghe mà không tin vào tai mình. Nên hỏi lại:
    Anh nói hai cái mỏ gì?
    Dạ mỏ "nen" với mỏ sợi anh. Để may quần áo đấy. Bây giờ quê em mặc toàn quần áo mới.
    Tôi và mấy bạn tù nhìn nhau, không biết nói gì. Không phải dễ mà giải thích cho anh ta hiểu.Và chẳng hiểu ai đã nói với anh điều đó. Làm sao nói cho anh ta biết "len" và sợi chẳng dính dáng gì đến mỏ cả. Nó thuộc về bông vải và những con Cừu. Không phải đất đá, kim loại. Tôi chẳng nói gì thêm. Hai vệ binh canh gác chúng tôi tất nhiên cũng không thích tôi nói chuyện nhiều với người dân.
    Căn nhà chúng tôi dựng lên sát bờ kinh 7. Cách đó vài chục bước chân là một kho lúa được canh giữ bởi một bộ đội người Hoa Chợ Lớn. Không hiểu sao là người Hoa mà lại phải đi bộ đội. Chỉ biết là hắn "trúng tuyển" đi năm 76. Tánh hiền hậu thật thà, tất nhiên là nói tiếng Việt cũng rành y như những người Tàu xưa tôi đã gặp. Tên là Tăng Tô Hà. Bây giờ nhớ lại thấy giống như tên của mấy diễn viên Hồng Kông.
    Một hôm Hà nói với tôi: Hôm qua thằng thượng úy sinh hoạt chi bộ. "Nó" nói mình được Liên Xô viện trợ cho một loại máy bay rất hiện đại. Bắn ra một thứ đạn trúng máy bay địch nhưng chỉ dính vào thôi. Khi trở về sân bay nó sẽ nổ, thế là nổ dây chuyền hết một sân bay địch thật dễ dàng. Tôi phì cười hỏi: vậy ông nghĩ sao. Hà cười ngoác miệng, nhỏ giọng thì thào: Mẹ. Đạn mà làm như kẹo cao su. Tôi đâu có ngu. Mấy câu chuyện đó theo ám ảnh tôi nhiều năm trời. Tại sao một con người có thể nghĩ rằng vải sợi họ mặc trên người lại nằm trong mỏ, giống như mỏ kẽm, đồng, than, v,v. Tại sao lại nói những điều lừa dối với những người lính của mình. Hay anh thượng úy kia cũng không biết rằng "chính anh ta bị cấp trên lừa dối mà không biết. 
    Và chế độ lừa dối ấy đã vô cùng thành công khi kéo đất nước này lùi lại năm bẩy chục năm.

    ( Nguyễn Khôi Việt )

    Saturday, April 2, 2016



    Tháng Tư. 75. Bữa tiệc của bầy kên kên


    Vẫn chưa tin là mình mất nước.
     26.tháng 4.75.    

    Rời khỏi  căn nhà nhỏ ở ngã tư Hàng Xanh,chạy xe trong thành phố giữa bầu không khí ngột ngạt, thê lương mang dáng dấp tử thần và hơi thuốc súng. Sài gòn , những ngày gần cuối tháng tư, bầu trời xám xịt u ám với từng lớp mây hình thù quái dị  chực nuốt chửng những phận đời dân tôi khốn khổ, như báo hiệu cửa địa ngục sắp mở,và chúng tôi chờ được gọi tên.
    Mắt tôi cộm cay như vừa va vập vào bức tường đầy cát đá.
    Mặt đường như rạn nứt dưới vòng bánh xe .

    Quốc lộ một, đạn pháo liên hồi  từ Củ Chi đếnTrảng Bàng,
    Những người chạy từ Tây Ninh, Gò Dầu Hạ về thành phố cho biết, miệt đó cũng đang bị pháo kích dữ dội. Hai bên đường đôi chỗ sườn nhà cháy nham nhở, chỗ trơ cột gỗ còn ngún khói. Lửa, khói  nghi ngút trên những cánh rừng thưa.  Xe đò vẫn chạy,vẫn  rước khách. Người ta bám càng, bám hông, chen chúc trên mui xe. Họ tìm đường sống trong hoang mang,tuyệt vọng
    Hai bên đường, đạn vẫn tiếp tục bắn phá.
    Gió xé da, xát muối. Nắng quái tháng Tư quật rát mặt, ép dính hai bên tóc bê bết những giọt mồ hôi lẫn nước mắt.Đôi khi, có những trái đạn nổ quá gần đường nhựa. Hơi ép làm tôi lồng ngực của tôi ran rát nóng. Phải há to miệng lấy hơi tôi mới thở được.
    Tôi nghĩ là mình sẽ chết.
    Mình sẽ chết ra sao ? Thịt da tung tóe. Có kịp để biết cảm giác đau đớn ? Nhưng, xin Thượng đế hãy cho tôi được gặp anh, cho tôi được nhìn tận mắt, ít ra, anh còn sống sau trận chiến tàn khốc, dù rằng, chúng tôi là những kẻ thua trận.
    Không hiểu, xui khiến làm sao, tôi cũng đến được vùng anh đang đóng quân.

    Lộc Giang. Nơi hậu trạm.
    Người lính gọi máy. Nửa tiếng sau, một viên trung úy trẻ của đại đội chỉ huy chở tôi tới chỗ của anh. Người lính nói “ Đêm qua cha con ông ấy phải  đào hố nằm lại, tụi nó pháo dữ quá. Tại chị lỡ lên đây rồi nên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng mới cho chị vô đó. Mà chị lên làm chi ở chỗ đánh nhau nguy hiểm như vầy . Đó, chị nghe chưa, tụi nó đang rót pháo liên hồi kìa. Chị biết mà. Súng đạn đâu né mình.”
    Đơn vị anh đang chuẩn bị đợt tấn công mới để tái chiếm lại xã Lộc Giang. Khắp nơi đạn  pháo nổ kinh hoàng. Khói bụi mù mịt. Mấy người lính nói pháo binh 155 đặt tại sân banh bị pháo trúng nên giờ đơn vị của anh chỉ tham chiến bằng hỏa lực cơ hữu. Pháo từ phía rừng Bời Lời, từ Đức Huệ bắn qua liên hồi. Vừa thấy tôi, anh vội kéo tôi nhảy xuống hố cá nhân. Người lính mang máy truyền tin gửi về phía tôi mắt nhìn lo âu lẫn mệt mỏi.
    Cõi lòng tôi bây giờ cũng trĩu nặng hoang mang, cả sợ hãi. Tôi nói với anh:
    ”Sắp mất nước rồi, anh à. Sài Gòn người ta đi nhiều lắm. Anh về đi, anh”
    Anh nhìn tôi. Và nhìn v phía nhng trung đi ca anh đang b trí xung quanh . 
    Đôi mắt của anh, lúc ấy, vừa cương quyết vừa dữ dội.
    Ánh mt  chp nhn cái chết. Chp nhn hy dit.
    Con đường bước lui không xa lắm. Chỉ băng qua giao thông hào, nối tiếp một con đường đất nhỏ là đầu xóm nhà dân. Xe của tôi đang gửi ở đó. anh có thể cùng tôi, quay lại.
    Ở phía sau là gia đình của anh. Vợ và hai con.
    Là con đường ra biển.
    Anh chọn con đường phía trước.
    26 tháng Tư năm 75.
    Đó là giây phút cuối cùng chúng tôi được ngồi cạnh bên, nắm tay nhau, ráng níu cùng nhau, hơi thở thoi thóp của Tự Do.
    Và anh. Trả giá cho sự lựa chọn đó bằng bảy năm tù và bằng cái chết của con trai chúng tôi.
    Anh và đồng đội đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng của ngày 30 tháng 4. Họ chiến đấu trong tuyệt vọng, bởi họ biết, từng phần của miền Nam đã rơi vào tay Cộng sản từ nhiều ngày trước. 
    Đôi khi tôi tự hỏi. Mình có thật sự hãnh diện với điều đó hay không .Cái giá phải trả quá đắt .Vì, cuối cùng chúng tôi cũng vẫn là những kẻ vô Tổ Quốc.
    Năm tháng, vết thương tuy đã thành sẹo nhưng nỗi đau vẫn âm ỉ, nhức nhối. Nó gom đủ mọi trạng thái: Hào hùng. Bi tráng. Đau đớn. Hãnh diện.Căm thù
    Và chúng tôi, luôn mang trong lòng một trái tim đau, một nỗi tủi nhục và mãi mãi, sống cùng nó trong suốt phần đời còn lại của mình.


    Tù binh.

    Từ tháng 4. 75.. cho đến tn bây gi (dù chúng tôi đã quá già theo thi gian) mi năm, như mt vết thương tự động nhc nhi theo mùa, như mnh đn đâu đó nm trong lng ngc. Tháng tư,  Nó cựa mình, thng thiết gi tên, gi lên ni mt mát mà mi thi khc đến đi, ni căm giận, nỗi tủi nhục trong chúng tôi đm đc hơn, đau đn hơn.
    Tựa như bìa giấy cũ lâu ngày thấm sũng nỗi buồn.
    Tôi thật không nhớ rõ, cảm giác của ngày hôm ấy. Nhưng thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn mơ thấy mình điên cuồng chạy xô giạt gió. Tôi hoang mang. Tôi sợ hãi, và khung cảnh xung quanh y hệt như ngày nào, tôi chạy xe từ Sài Gòn về Trảng Bàng tìm anh.
    Vòng bánh xe hối hả ngấu nghiến theo đầu óc lơ mơ, tôi thật sự không biết tìm anh ở đâu. Hai bên đường mù mịt khói đạn pháo kích.Rừng thưa ngún cháy bắn những tia lửa sẫm mầu tang tóc.
    Nhà cháy đen trơ nền gạch, trơ hàng cột đen xì như thân người chết cháy.
    Hai bên đường, người người gồng gánh con thơ,túi bị, thùng xiểng. Người chạy lên. Kẻ chạy xuống. Họ không biết chạy đi đâu. Tiếng la hét hỗn loạn. Họ chạy qua những xác người co quắp, có xác được đắp chiếu thò nguyên ống chân, có xác vùi mặt ôm đám tranh khô. Người chết có nơi về. Người sống tìm chốn để nương náu. Dù sống hay chết, phận người cũng rẻ mạt như loài cỏ dại.
    Chiến tranh. Chết chóc có mặt khắp mọi nơi.
    Tôi tìm anh trong vùng lửa đạn, đầm đìa thịt xương.
    Đoạn đường không ranh giới giữa sống- chết, tôi thật sự không hề nghĩ rằng, nếu tôi chết tan xác bởi đạn pháo kích, hoặc bởi phát súng của kẻ thù, nếu tôi, chết tình cờ , bờ đê, bụi cỏ, lề đường..Các con của tôi sẽ ra sao? Ai sẽ nuôi chúng? Hoặc nếu anh còn sống sót, làm sao anh có thể tìm được tôi trong đám xác người ngập ngụa không hình thù kia ?
    Các con tôi. Buổi sáng lúc rời nhà, tôi không nhớ ôm lấy chúng, hôn lên gò má mịn màng của hai chị em nó. Sao lúc nầy tôi lại nhớ tê tái mùi da thịt ngọt thơm của hai đứa nhỏ.
    Ở nhà, không ai biết tôi đi đâu.
    Tôi thật sự, lúc đó, chỉ khao khát được nhìn thấy anh. Chỉ thôi thúc ý nghĩ mãnh liệt phải đi tìm anh. Phải tìm anh.Thấy tận mặt như hơi thở chạm vào hơi thở.
    Tình yêu của tuổi trẻ thời chiến tranh thật bi thương, đau đớn.
    Tình yêu đứng ngoài cái chết. Đứng trên nỗi sợ hãi.
    Đại đội của anh là đơn vị chiến đấu đến giờ phút cuối cùng vào lúc 5 giờ chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại chiến trường Đức Huệ, Trảng Bàng.
    Họ chiến đấu dũng cảm trong tuyệt vọng.
    Tôi lúc đó, điên cuồng cầu xin Chúa, xin Phật, xin bất cứ đấng thần linh nào đang đứng đâu đó, mọi nơi, mọi lúc, che chở cho anh còn sống để gặp tôi.
    Tôi sợ anh tự sát.
    Trời ơi. Nếu điều đó xảy ra.. Em và con sẽ sống ra sao đây. Anh ơi.
    Sẽ cùng chết theo anh? Nhưng chết mỗi người một nơi, làm sao chúng ta có thể tìm thấy nhau.
    Nhưng mất nước rồi. Chúng ta còn sống nào có ích gì ?
    Giải  pháp tìm cái chết đến thật bất ngờ làm lòng tôi nhẹ tênh. Nó như một cái phao cho tôi bám níu để lựa chọn, để giải thoát. Dù thật sự, tôi không biết tìm đến cái chết như thế nào.
    Cuối cùng ai lại chẳng chết.
    Khác chăng, chỉ sớm hay muộn mà thôi.
    Tôi gặp anh. Đó là ngày 1 tháng 5 năm 1975 lúc gần 11 giờ trưa
    Chúng tôi đứng nhìn nhau qua hàng rào kẽm gai. Trời nung nắng như bể lửa. Mồ hôi và nước mắt nhòe nhoẹt trên gò má tôi, tóc bết từng mảng vào da mặn đắng. Nhiều người cũng như tôi, họ tìm chồng, tìm con, tìm anh em..Có người níu hàng rào khóc vì vui mừng khi thân nhân còn sống, có người ngồi bệt xuống đường nuốt ngược lệ vào trong.
    Anh của tôi. Áo lính đã bị lột bỏ.
    Nhục nhã, thống khổ đậu hằn  trên viền gân máu mắt của  anh, của từng chiến hữu. Những  người tù binh vừa hạ vũ khí ngày hôm qua. Lúc ấy, chắc chắn, họ không hề nghĩ đến bản án tù như tấm lưới khổng lồ đang lơ lửng trên đầu sắp vồ chụp lấy họ. Họ. Nhục nhã, tủi hổ  vì không giữ được Tổ Quốc.
    Tôi nhớ, mới cách đây mấy ngày, khi tôi tìm anh ở Lộc Giang, đôi mắt anh lúc ấy, nhìn về phía trước, vừa cương quyết vừa dữ dội.
    Ánh mắt bây giờ, cùng cực nỗi thống thiết, bi phẫn.
    Mắt hổ mất rừng.
    Mắt thú dữ mắc bẫy.
    Ngăn cách giữa hàng rào kẽm gai, làm sao tôi có thể nói với anh, triệu nghìn lời muốn nói.
    Làm sao có thể khóc òa theo trái tim vỡ máu. " Mất nước rồi . Anh ơi."
    Mất nước thật rồi...
    Còn lời than khóc nào đau đớn hơn ?


    Ngày 1 tháng 5 .1975.

    Chạy

     
    Sáng sớm.  Chị chạy theo anh. Đôi dép nhựa, áo cánh nâu, quần ú đen, một túi thức ăn. Chị tất tả bươn dọc con kinh. Chị không biết mình chạy theo anh để làm gì. Nhìn thấy anh lần cuối. Còn được nhìn thấy nhau khi anh còn sống ?  
    Ngay lúc nầy, chị mới thấm thía cảm giác khao khát được nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt mãnh liệt đến chừng nào.
    Ai đó gào với sau lưng. Chạy đi đâu. Biết tìm đâu. Tìm đâu. Hai chữ đó không ngừng đập liên hồi dồn dập trong tai chị . Nó đau đớn . Nó cay xé lòng.  Họ sẽ đưa chồng tôi đi đâu. Họ sẽ bắn giết đoàn tù trên bờ kinh, trong rừng rậm kia như xoá sổ một con vật không còn khả năng tự vệ. Họ sẽ vùi lấp xác anh đâu đó , trong nhúm lá rừng khô hay sẽ thả trôi sông theo con nước vật vờ mà bàn chân chị vừa dẫm qua, máu thấm từ bàn chân trầy xước đổ xuôi theo giòng nước đục ngầu.
    Chị chạy. Nhắm thẳng hướng rừng. Trong mớ ý nghĩ hỗn độn chắp vá không gian nọ sang thời gian kia, chị nhớ như in, chiều qua, anh đứng sau hàng rào kẽm gai, quân phục bị tước bỏ . Mắt anh đỏ ngầu như gân máu bể. Tay chị bấu chặt hàng rào kẽm gai. Anh khóc. Chị khóc. “Mất nước rồi , anh ơi" Thân chị đổ gục xuống .Nước mắt tuôn lai láng như hồ nước vỡ.
    Anh đứng bất động .Đầu cúi gầm . Đôi vai rủ xuống.
    Anh. Người tù binh cuối cùng của ngày 1 tháng 5.
    Chị chạy cặp theo rừng chồi , qua tiếp những bờ kinh sạt lở . Dép đứt quai, chị vừa chạy vừa cà nhắc . Chị lê lết níu người qua đường . Cô ơi. Chú ơi. Đoàn tù đi hướng nào. Cô chú ơi, làm ơn chỉ dùm con....Tiếng hỏi, tiếng nói lùng bùng rơi rớt phía sau .Nước mắt đầm đìa lạnh từng chân tóc. Đôi lúc chị ôm ngực ho sặc sụa, cơn đau thắt từng cơn khiến lồng ngực như bị xé toang tan tác.
    Chị nghĩ mình sắp chết . Em có kịp gặp anh không . Anh ơi.
    Xế trưa, chị cũng đến được bờ sông Vàm cỏ Đông.
    Đầu gối khuỵ xuống. Chị gào tên anh.
    Nắng xé trời.
    Đoàn tù lố nhố trên một cái phà chạy máy đuôi tôm. Phà qua sông.
    Họ đi, những hình nhân tả tơi chân nọ xiềng xích chân kia . Tiếng khua lẻng xẻng đập vào tai chị những mớ âm thanh vừa ghê rợn vừa thê lương. Họ, từng người một  đang đi dần vào đia ngục trần gian.
    Nơi đó.Bầy kên kên đang chờ rỉa xác.
    Chị cào cấu đám cỏ xước trên bờ kinh. 
    Chị hươ tay trong không khí . Chị hối hả bốc nắm đất ném mạnh xuống sông.
    Từ bờ kinh, chị lăn lông lốc xuống triền sông.
    Rồi, thình lình chị bật dậy, cắm cổ chạy dọc theo bờ cát sụp lỡ.
    Chị khàn hơi gọi tên anh. Cổ họng cay xé, tiếng kêu đau đớn như con thú bị thương, vùng vẫy chờ nhát dao ân huệ.
    Đoàn tù vẫn nhấp nhô, thấp thoáng bên kia sông.
    Chị hy vọng anh sẽ nghe tiếng gọi. Anh sẽ biết , đến lúc cuối cùng chị vẫn khao khát được ở cạnh anh, được trông thấy anh .Dù có chết, Anh sẽ không còn cảm thấy đơn độc, vì cuối cùng , chị vẫn rất gần anh, vẫn cùng anh thở chung một bầu trời, chung một khoảng khắc vĩnh cửu.
    Bên nầy sông, chị vẫn hối hả chạy tiếp.
    Chạy. Chạy. Và chạy.
    Đột nhiên, chân chị sững lại. Rừng. Rừng nối tiếp rừng. Gai nhọn xù tua tủa. Rừng rậm rịt âm u. Rừng gầm gừ đe dọa.
    Đoàn tù đã biến mất.
    Chị khóc như chưa bao giờ được khóc. Tiếng khóc rền rĩ như máu dốc ngược trào qua lồng ngực kèm cơn ho gập người sặc sụa. Thân người chị đổ ập, mặt mũi bê bết đất cát lẫn máu và nước mắt.
    Chị đã mất anh rồi. Em mất anh rồi. Không có anh, em và con phải sống làm sao đây. Anh ơi.
    Nắng dồn cục. Đổ lửa. Mặt trời đặc quánh, đỏ bầm như mầu máu.


    Rác.

    Tháng 4.75.
    Ông từ rừng vào thành phố theo đoàn quân chiến thắng. Ông vai chú, em của ba tôi. Ông theo Việt minh từ thập niên 50, sau 54, ba tôi về Thành, ông theo đoàn quân Bắc tiến.
    Ông đến tìm tôi bằng chiếc xe mới tịch thu của người dân bỏ chạy, xe Peugeot có tài xế hẳn hoi.Từ trên xe, ông oai vệ bước xuống với đôi dép râu, bộ đồ xanh cứt ngựa, nón cối, cặp táp da và khi ông cố ý xắn tay áo, chiếc đồng hồ “ hai cửa sổ” mới toanh  nằm phô trương trên cổ tay như chính chủ nhân.
    Xóm nhỏ của tôi, chỉ vài con đường hẹp là ra tới bờ kinh. Đa số dân lao động, trồng rau muống, nuôi gà, thả vịt, và bờ kinh đó, từ mấy ngày trước lềnh khênh nón sắt, quần áo lính, hình ảnh, giấy tờ..mà mọi người vội ném phi tang những tàn dư dính dáng đến nguỵ quân, nguỵ quyền. Trong mớ hỗn tạp ướt nhẹp đó có quần áo lính của anh, huy chương, giày sô mà anh để lại những lần về phép.
    Chúng tôi, cái xóm nhỏ ấy, sợ hãi đủ thứ. Sợ tiếng động, tiếng giày ngoài ngõ , tiếng chó sủa. Ngay cả tiếng chuột rin rít chạy dọc mép kinh cũng làm chúng tôi co người, rúm ró.
    Nên chi, cái vẻ đường bệ từ trên xe bước ra, hỏi tên tôi làm ai cũng ngơ ngác. Có người còn làm bộ không nghe, mà quả thực, tiếng nói của ông như chim chích bị viêm họng ấy, nặng trình trịch và nhức nhối khó tả.
    Thưở nay, tôi không biết Việt cộng mặt mũi ra sao. chỉ  mấy hôm trước,  khi miền Nam thất thủ, Việt công tràn vào thành phố, xe tăng chạy  ình ịch, Bà con kêu réo nhau “ Ra mà coi Việt cộng kìa” Ủa . Ngộ hen” Té ra cũng giống như người mình”.Người ta coi Việt công vào thành phố như được coi đám xiếc.” Mặt mũi họ xanh xao, non choẹt, nhìn ngao ngáo thấy mà mắc cười. Lúc đó, chúng tôi quên nỗi sợ hãi,
    ít ra là khoảng khắc đó, chưa ai bị bắt và cái đói chưa lấp ló.
    Mấy ngày trước, đoàn quân giữ tuyến đầu thành phố đụng trận lớn, nghe nói, nhiều người bị thương, một số được đưa về quân y viện, một số cởi bỏ quân phục tìm đường ra biển. Bên kia , chết và bị thương cũng khá nhiều trong trận đánh quyết tử cuối cùng , nhưng chúng tôi không thấy xác của họ. Họ âm thầm mang đi , chắc là dọn dẹp quang đãng để treo cờ ăn mừng chiến thắng.
    Bây giờ thành phố toàn bộ đội Bắc việt, và quanh xóm tôi, không biết ở đâu ra, từng nhóm người mang súng AK. Đeo khăn rằn, khăn quàng đỏ, dép râu, nón cối ..Nhiều người tôi biết mặt, họ đạp xích lô, bốc vác ở chợ, nhưng cái dép râu, nón cối đã đưa họ lên một bậc cao hơn, hùng vĩ hơn, nó phân chia thành ranh giới rạch ròi  mà người dân chúng tôi, phải nép qua một bên khi vô tình đi chung đường.
    Ông chú hỏi tôi:
    “Chồng cháu ngụy quân à ?”
    “Vâng.”
    “Cấp bậc gì?”
    “Dạ, trung úy”
    ‘Lính gì ?”
    “Dạ, lính đánh giặc”- Ông nhăn nhó.
    “Đã đi trình diện , khai báo chưa ?”
    “Bị bắt làm tù binh rồi chú. Chắc đang giải qua Miên”
    “Ờ, đi cải tạo học tập mười ngày thôi. Đã có chủ trương, chính sách rõ ràng rồi. Cách mạng rất khoan hồng, cháu à. Nó sớm về với cháu ấy mà ”
    Ông nhìn quanh quất chỗ tôi ở. Và nhìn qua tôi. Trong suy nghĩ của ông, tôi là vợ sĩ quan “ngụy”  chắc phải có của ăn của để, tài sản phải có của chìm của nổi, và chỗ ở đơn sơ nầy chỉ là bề ngoài ngụy trang như nhiều gia đình khác, bỏ của chạy lấy người.
    Ba tôi cũng là công chức. Và ông cũng chuẩn bị đi đếm lịch như chồng tôi, nhưng tôi hơi ngạc nhiên vì không nghe ông hỏi han gì ba tôi. Họ là anh em mà. Dù hai chiến tuyến, họ cũng không thể chối bỏ quan hệ máu mủ, ruột thịt..
    “Chú gặp ba con chưa.?”
    “Chưa, từ từ, ba cháu cũng cần phải đi học tập để nắm vững đường lối chính sách của  Đảng. Khi ba cháu về, chú sẽ tìm thăm.”
    “ Nhà của cháu ở đây à?”
    “Vâng”
    “Còn nhà khác nữa không ?”
    “Không, cháu chỉ ở đây.”
    “Con Huệ, con bác Tư của cháu đó, nó giàu lắm.Nó có mấy cái nhà xây hai tầng, mấy cái nhà nghỉ cho thuê. Giải phóng vào, nó được lắm, nó tự nguyện đem hiến của cải nhà cửa cho cách mạng làm cơ sở hoạt động. Thời gian tiếp thu ban đầu, ta rất cần những cơ sở vật chất đấy , cháu ạ. Thống nhất đất nước, ta còn khối việc để làm. Cơ bản là ta xây dựng lại đất nước , hướng mọi người đi theo chủ trương chính sách của nhà nước.
    Để rồi cháu xem,  chế độ ta , mai đây giàu có gấp vạn lần bọn tư bản đế quốc. À, con Huệ đấy, nó làm gì cháu biết không ?”
    ”Chắc chị ấy buôn bán thôi, chú ạ”
    “Buôn bán mà sao giàu khiếp thế.. Nhà nó có mấy người làm cơ đấy.  Chỉ bóc lột mới giàu như vậy thôi. Còn cháu, cháu làm gì ?”
    “Cháu dạy học”
    “A, nghề kỹ sư tâm hồn đây. Nghề nầy không có nợ máu với nhân dân. Chắc cách mạng sẽ tin dùng lại cháu thôi.”
    Tôi làm thinh. Tôi đâu nghĩ mình sẽ trở lại nghề dạy học, mà tình cảnh tôi đang rối bời đây.Chồng đi tù, con nhỏ, tôi không chắc mình kéo  lê cuộc sống nầy thêm bao thời gian nữa.Tôi thật sự không biết tương lai của chúng tôi sẽ ra sao. Mà tôi cũng không muốn nghĩ tới điều đó nữa. Tôi chưa có tâm trạng để mở bài học làm-sao-để-sinh- tồn.
    Ông đằng hắng, ngó quanh quất căn phòng lần nữa, và ông hỏi tôi một câu mà đến bây giờ, tôi vẫn còn bị ám ảnh.
     “Cháu có mấy trăm cái áo dài ? mấy trăm bộ đồ đầm?”
    “ Da…sao c
    ơ chú ?
    “Cháu chia bớt cho mấy em ở ngoài Bắc với nhé. Vài hôm có người về chú gửi theo.”
    “Cháu..”
    “Cháu có truyền hình, thu băng, xe đạp không dùng thì gửi cho các em nhé. Nhà chú cũng có mọi thứ đấy nhưng hàng Trung quốc không bằng hàng tụi đế quốc tư bản đâu, cháu ạ.”
    “Ơ..cháu..”
    “ Cháu lựa đồ đạc rồi vài hôm chú ghé qua nhé..”
    Ông dợm bước ra, rồi sực nhớ điều gì, ông kêu chú tài xế mang vào nhà một túi nilon, dúi vào
    tay tôi.
    “ Chú có quà cho cháu đây. Bột trứng Trung quốc, ngon lắm cháu ạ. Cháu uống hoặc làm thức ăn. Còn đây là chè  Bắc Thái nguyên, nổi tiếng khắp cả nước đấy. Cái nầy là bánh đậu xanh đóng khô, nhìn vậy chứ bổ dưỡng lắm. Bộ đội ta dùng toàn mấy thứ nầy khi vượt Trường sơn đấy cháu.Cái nầy cháu để dành ăn dần.”
    Ông vui vẻ vỗ vai tôi
    “ Thôi nhé. Vài hôm chú đến nhé.”
    Trôi bềnh bồng trong chữ nhé nhé của ông, tôi ngồi phịch xuống ghế khi bộ quần áo bộ đội mầu cứt ngựa vừa khuất khỏi tầm mắt. Mấy trăm cái áo dài. Mấy trăm bộ đồ đầm, TV, cassette..
    Ôi trời..
    Con bé từ trong nhà chạy ra, hí hửng cầm bịch nilon.
    “Má ơi. Con ăn được không ?”
    “ Ngộ độc, con ơi.”
    Tôi vớ bịch nilon, thẳng tay ném mạnh xuống bờ kinh.
     Nó dùng dằng, hấp hối rồi mới chịu trôi lềnh bềnh theo mặt nước đen ngòm y hệt như đất nước tôi bây giờ, với những giòng kinh đen chở đầy rác rưởi.




    Em thương lắm những ngón tay anh gầy guộc.
    Đôi chỗ sần sùi đôi chỗ nứt khô
    Những cái xiết tay ngày ta mới gặp
    Nước mắt em rơi, rơi thật tình cờ

    Những ngón tay nương cuộc tình ngang đời lận đận
    Che nắng che mưa che cả nỗi đau
    Ở đó, trong bóng mát tình nhân em thu mình bé dại
    Mặc ngoài trời kia gió đổ mưa mau.

    Em thương lắm đôi mắt anh đong đầy nắng ấm
    Đôi lúc bâng khuâng thoáng chút ngọt ngào.
    Em nương theo đời có tình anh dõi theo quấn quýt
    Ta khao khát một chỗ ngồi ngày tàn lửa binh đao.

    Em thương lắm ngày đôi mắt anh nhìn em tuyệt vọng
    Ta chênh vênh bên bờ vực sinh- tử đảo điên
    Em lẻ loi giữa đời thường muôn ngàn bất trắc
    Anh tả tơi trong đoàn tù rên xiết xích xiềng

    Những ký ức kinh hoàng hơn bốn mươi năm nhìn lại
    Vẫn đằng đẵng một nỗi buồn, bầm dập kiếp phù du
    Vết thương khép miệng chưa sao vẫn còn nhức nhối
    Tủi nhục theo cùng những giọt lệ tháng Tư

    Nên em thuơng lắm những ngón tay anh lẻ bạn
    Bỏ lại trên chiến trường đau đớn tang thương 
    Thương. Không biết làm sao cho anh hiểu thấu,
    Rằng em vẫn luôn cùng anh chia xẻ những tai ương

    Và. Thương lắm ở tháng ngày còn lại..






    Những lần từ đơn vị trở về , người còn bám bụi đường, mồ hôi nhễ nhại,, rồi cứ nguyên bộ đồ trận tàng tàng như vậy. Anh chở tôi xuống Gò Vấp.Tới quán Hương Xưa, như những lần về hiếm hoi của anh.
    Trời chợt đổ nắng loang lổ trên những tàng cây xanh sẫm. Nắng trưa Sài gòn gay gắt làm tôi thèm quá một cơn mưa. Những cơn mưa đêm làm ngọt ngào thêm thành phố tình nhân, tiếng hát anh lẫn
    trong những hạt mưa lất phất thịt da. Mưa tha thiết đến lạ lùng..” Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa..Như mưa đời phất phơ. Có nhau mà như xa…” Ừ, thì đó. Có nhau mà như xa…Cuộc tình chúng ta đã nếm đủ hạnh phúc lẫn thương đau. Và, có phải, tình yêu trong chiến tranh, hạnh phúc chỉ đựơc ban phát chừng đó, chỉ lẩn khuất đâu đó, một chút lóe sáng trong khoảnh khắc hiếm hoi của đời sống
    Ở khoảng sân rộng nhánh lá đùn đẩy nhau xòe tàng lười biếng, chúng tôi chọn một chỗ ngồi quen thuộc nơi góc vườn, dưới những tàng cây vừa đủ che mát trong cái nắng oi ả của mùa Hạ. Cô chủ quán thuở ấy rất xinh. Tóc dài. Da trắng. Cô mang cho anh một ly cà phê đen và một gói Bastos xanh. Một ly nước cam cho tôi
    Trong không gian yên tĩnh xa khuất cuộc sống hối hả ngoài kia, chúng tôi nghe Lệ Thu với Hương Xưa… Bàn tay anh tìm lấy tay tôi. Những ngón tay xiết nhẹ, vừa nồng nàn vừa an ủi. Đôi lúc tôi áp bàn tay anh lên má, không biết bởi cái nắng oi bức hay bởi đựơc thấy nhau bất chợt, đựơc ngồi cạnh nhau cùng chia xẻ hơi thở hiếm hoi của đời sống mà đôi má tôi như hâm hấp sốt. Tôi sợ những giây phút phải xa anh, sợ khi  rời khỏi, anh mang theo mọi thứ.
    Tình yêu. Nỗi nhớ. Bỏ lại tôi như thân cây khô khốc ngày qua ngày cạn kiệt dần nhựa sống.
     “Người ơi. Một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa…  
    Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”
    Ôi, những ước mơ rất tầm thường, rất nhỏ bé, rất hồn nhiên giữa chập chùng bất trắc của chiến tranh.Trong những khoảng khắc bình yên đó. chúng tôi thực sự muốn quên hết thực tại não lòng, muốn quên rằng lát nữa đây, khi anh trở về đơn vị. Tôi, như bao lần  xa anh, nào ai biết được, điều gì sẽ xẩy đến. Hôm nay. Ngày mai. Chiều nay. Sớm thức dậy.Tôi luôn sống trong  chờ đợi với nỗi sợ hãi, nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Anh bao giờ cũng vậy, đi không hẹn ngày về, chỉ nhìn nhau, nhìn nhau qua màn lệ mỏng. Và vòng tay anh xiết chặt vai tôi. “Đừng khóc. Em ơi. Đừng khóc”. Vòng bụi xa cuốn theo anh những giọt nước mắt  tủi thân của người ở lại, cuốn theo cả trái tim tôi vụn vỡ.
    Tháng Ba. Góc quán Hương Xưa. 

    Có ai ngờ rằng, ngày ấy, khi bước chân rời khỏi, nó đã trở thành một phần trong muôn ngàn kỷ niệm vừa ngọt ngào vừa đau đớn. Cuộc sống bình yên của Sài Gòn khép lại tủi nhục, và lịch sử mở ra một trang đẫm máu khác.
     Những lời hẹn giữ đời cho nhau đã bị nghiền nát dưới xích xe tăng hận thù của loài thú dữ.
    Trải qua bao tang thương dâu bể, điều huyền diệu nhất mà Thượng đế ban tặng cho tôi, ở đời sống nầy, là anh còn sống sót trở về cùng tôi, một lần nữa, cùng tôi, đi cho hết quãng đường còn lại.
    Tháng Tư. Chiều nay, anh mang bàn ghế bày biện dưới gốc cây ở cuối vườn. Hoa Jasmine nở trắng xoá  trong  không gian thơm lừng hương áo mới. Anh  nói: “Để em mường tượng lại một chút gì đó của Hương Xưa”.
    Một chút nắng nhỏ nhoi đậu trên vai anh, Nắng rưng rưng, hiu hắt.
    Tôi  nhớ  quá nắng Sài gòn xưa, nhớ những cơn mưa chiều vội vã, nh
    ớ hàng cây bên đường ủ rủ sương đêm và dù, không còn những lần chia xa khi bàn tay níu bàn tay, không còn cái xiết vai nghẹn ngào.” Đừng khóc. Em ơi. Đừng khóc.”

    Vậy mà cớ sao, chiều nay, chúng tôi cùng muốn khóc.