Thursday, June 29, 2017

                                    Tình khúc tháng sáu 
                                    Nhạc : Ngô Thụy Miên
                                    Ca sĩ : Khánh Hà

Anh ..

Tháng sáu sinh nhật anh cũng là tháng mưa nhiều hơn trong năm.
Những cơn mưa đôi khi vội vã , đôi khi kéo dài lê thê sớm tối ..
Những cơn mưa ngày xưa khi tiễn nhau cuối đường , người trở về đơn vị , người ở lại thành phố , nghìn giọt mưa sũng ướt chan hòa nước mắt..
Mưa ngày ấy thường gõ vào tim em những nhịp khôn xiết thổn thức ..
Chúng ta luôn luôn sợ mất nhau , sợ khi vòng bánh xe lăn đi cuốn theo nỗi nhớ, là chúng ta, đời nầy vĩnh viễn lìa nhau ..
Chúng ta đã trải qua những mùa mưa tháng sáu trong đời , ly biệt có , nhọc nhằn có , và mỗi ngày khi chúng ta già đi , ký ức theo tuổi tác đã, phủ lên nó từng mảng thời gian sương khói của lãng quên..
Nhưng , anh ạ .. Mưa tháng sáu của những lần ta chia tay cuối đường vẫn luôn ẩn khuất trong tim em , khi ta nhớ về ..
Những giọt mưa tình nhân tháng sáu ...

Friday, June 2, 2017

                 

                            Những thi tập của thi sĩ Đinh Hùng


ĐÀM TRUNG PHÁP: NỖI NIỀM NGHIỆT NGÃ TRONG THƠ ĐINH HÙNG

Đinh Hùng qua đời vì bạo bệnh vào mùa thu 1967 tại Saigon trong một ngày gió mưa tầm tã, lúc mới 47 tuổi. Vài tuần sau đó, Vũ Hoàng Chương (người anh rể cũng là thi hữu thân nhất của Đinh Hùng) đã nói chuyện rất cảm động về cuộc đời của nhà thơ yểu tử tại Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. 
Qua bài nói chuyện “Nhớ Đinh Hùng” của ông, ta được biết vì đâu mà Đinh Hùng có cái “nguồn thi hứng ảm đạm bi thương đến rùng rợn tê điếng cả tâm hồn.” Năm Đinh Hùng 11 tuổi, chị Tuyết Hồng, một hoa khôi 18 tuổi đời, vì buồn chuyện tình duyên đã tự trầm tại Hồ Trúc Bạch. Vài tháng sau, thân phụ thất lộc khi chưa đầy 50 tuổi. Và 3 năm sau nữa, chị lớn nhất mang tên Loan cũng qua đời trong tuổi thanh xuân! Trại Trung Phụng, sản nghiệp to lớn nhà họ Đinh, vẫn theo lời Vũ Hoàng Chương, “quả là một gia tài đẫm lệ; bộ xương khô và lưỡi hái dài nanh ác lúc nào cũng như lẩn quất trong hang cây khế, cây cam.” (Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1969).
Đang học chương trình tú tài thì Đinh Hùng bỏ học để bắt đầu đi tìm những say mê của đời phóng khoáng:

Ta ném bút, dẫm lên Sầu một buổi,
Xa vở bài, mở rộng Sách Ham Mê,
Đã từng phen trèo cổng bỏ trường về,
Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn.


Đời đổi mới từ ngày ta dấy loạn,
Sớm như chiều hư thực bóng hoa hương.
Ta ra đi tìm lớp học thiên đường,
Và khi đó thì mẹ yêu ngồi khóc.
(Khi Mới Nhớn)

Cái “bóng hoa hương” quan trọng nhất đời Đinh Hùng là một người bà con có họ xa, mang tên Liên, mà nhà thơ đã yêu từ “độ em còn trèo cây khế, vin hai quả xanh bên tường.” Nàng lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp và tươi tắn:


Nắng vàng năm xưa đã tắt,
Cô bé ngày xưa lớn rồi.
Hoa hồng vừa nở trên môi
Và một trời thu trong mắt.
. . . . .
Em là Tiên Nữ diễm kiều,
Vin hái hoa trong vườn quý.
Dò theo những bước hương yêu,
Còn tôi đi làm thi sĩ.
(Tiếc Bướm)

Tiên Nữ diễm kiều đã có với nhà thơ nhiều kỷ niệm khó phai:


Người đẹp ngày xưa tên giống hoa,
Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,
Lén bước trang đài tới gặp ta.
. . . . .
Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.
Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,
Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!
(Liên Tưởng)

Bài thơ phảng phất chất thơ Charles Baudelaire, một nhà thơ Pháp thuộc thi phái Tượng Trưng mà Đinh Hùng ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng không ít (Đinh Hùng 1971).
Thi phái Tượng Trưng yêu chuộng những biểu tượng riêng tư, giữa cả rừng biểu tượng trong thiên nhiên (Michel Quesnel 1987).
Nhiều từ ngữ trong hai đoạn thơ ở trên chứa đựng ý nghĩ về “hoa sen” (tên giống hoa /sen đầu hạ / lửa hạ / Ý liên) đều là những biểu tượng riêng tư giữa nhà thơ và người yêu trong thơ.
Những “mạch nguồn giao cảm” (ngôn từ của Đinh Hùng) thấy trong “Liên Tưởng” rất có thể là do ảnh hưởng trực tiếp của bài “Correspondances” của Baudelaire – trong đó những mùi hương, những màu sắc và những âm thanh tương ứng.
Đinh Hùng và Ý Liên yêu nhau tha thiết trong tuyệt vọng. Nàng qua đời vì bệnh lao khi Đinh Hùng 20 tuổi (có lẽ lúc ấy Ý Liên tuổi chưa đến 20). Mất nàng, nhà thơ đau khổ đến điên dại. Cái ác nghiệt của Thần Chết lần này thực quá sức! Đã đến lúc nhà thơ chấp nhận cái chết, như thấy trong hai câu bi thảm trong thi tập “Mê Hồn Ca”:

Đi đi cho hết dương trần
Ngày mai tìm bóng Tử Thần mà yêu.

Từ cái định mệnh nghiệt ngã ấy, thi nhân đã viết lên những lời thơ âu yếm – nhưng cũng ma quái vô cùng – để nhắn vọng về thế giới bên kia, nơi có người yêu chàng hiện hữu:
Ta gửi bài thơ anh linh,

Trời cuối thu rồi … Em ở đâu!
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
. . . . .
Hỏi người trong mộ có rùng mình?
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?
(Gửi Người Dưới Mộ)

Làm sao quên được những cái chết quá sớm trong gia đình, nhất là cái chết quá phũ phàng của người tình thiên thu?
Làm sao lẩn trốn được cái định mệnh nghiệt ngã phong tỏa đời mình, nếu không rút vào một thế giới siêu tưởng?
Chính đó là điều nhà thơ đã làm. Chàng từ nay sẽ xuất trần, sẽ vượt ra ngoài vòng vũ trụ, và nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng (Thi Vũ 1993).
Con đường ngắn nhất để đi vào thế giới siêu tưởng của Đinh Hùng cũng là con đường Charles Baudelaire đã chọn, đó là kết bạn với nha phiến.
Trong bài “La Vie Antérieure” (Tiền Kiếp) của thi tập “Les Fleurs du Mal” (Ác Hoa), Baudelaire đã cho hồn phách phi lạc về kiếp trước để thấy mình như vua chúa sống trong cung điện nguy nga, an nhàn hưởng lạc thú đầy hương sắc. Nếu cái nhựa đắng thoát trần đã giúp Baudelaire quên đi nỗi buồn thế sự và trở về với cái quá khứ uy nghi giả tưởng của mình, thì nàng tiên nâu đã giúp Đinh Hùng chuyển cái tê mê nha phiến sang khoái cảm ái tình:

Trong im lặng, tôi rùng mình nín thở,
Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.
Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,
Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc.
(Giáp Mặt Phù Dung)

Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng đóng hai vai trò mâu thuẫn, khi thì hiền lành lúc thì dữ tợn. Chàng đã gặp nhiều người đẹp mang tên nên thơ như Nữ Chúa Sầu, Em Huyền Diệu, vân vân, thường là những nhan sắc liêu trai trong thi tập “Đường Vào Tình Sử.”

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên Em … Ôi, biển sắc rừng hương!
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm,
Em đến đây như đến tự thiên đường.
(Kỳ Nữ)

Đối với những giai nhân giả tưởng ấy, thi nhân lãng mạn và tình tứ lắm:


Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa, với gió bên hồ
Dành riêng em đấy khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa
(Tự Tình Dưới Hoa)

Ngược lại, trong một bài thơ khác, chàng đóng một vai rất dữ tợn. Đó là một con người nguyên thủy vóc dáng cổ quái, từ thiên nhiên huyền bí trở về đô thị tìm người yêu:


Ta về đây, lạ hết các người rồi,
Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.
Trong bỡ ngỡ duy lòng còn chút mộng,
Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.


Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,
Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,
Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt
Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa.
(Bài Ca Man Rợ)

Bị nàng ruồng rẫy, thi nhân điên lên như một con thú dữ, giết nàng tàn bạo, phá tan thành quách, rồi bình tĩnh trở về cõi nguyên thủy:

Ta thản nhiên, trở lại núi rừng,
Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng.

Phải chăng nỗi cô đơn bi thương trong cuộc sống trần thế đã xâm nhập cõi thơ siêu thực của Đinh Hùng, nơi mà nhà thơ chạy trốn cuộc đời? Ta thương cảm cho định mệnh thảm thê của Đinh Hùng, nhưng cũng chính nhờ vào cái kiếp sống tuyệt cùng vô vọng đó mà ta được đọc những vần thơ trác tuyệt nhất của ông – một nhà thơ lớn đã dùng thơ để bất tử hóa cái định mệnh quá bi thương của mình.
 ( trích từ FB NgocAnh Truong )

THƯ TỊCH
Đinh Hùng (1971) Đốt Lò Hương Cũ. Saigon: Lửa Thiêng.
Đinh Hùng (1972) Mê Hồn Ca. Saigon: Khai Trí.
Đinh Hùng (1961) Đường Vào Tình Sử. (Đại Nam in lại tại Mỹ, không đề năm nào).
Michel Quesnel (1987) Baudelaire, Solaire et Clandestin. Paris: Presses Universitaires de France.
Thi Vũ (1993) Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam. Paris: Quê Mẹ.
Trung Tâm VBVN (1969) Câu Chuyện Văn Chương. (Xuân Thu in lại tại Mỹ, không đề năm nào).

Thursday, May 18, 2017

                                             En Partant ( Nana Mouskouri )


Mỗi khoảng khắc chúng ta sống..đi qua..
sẽ trở thành huyền thoại..

En Partant.


En partant sur un bateau imaginaire
En partant
Toi capitaine et moi marin
Seuls au monde
Nous avons laissé tous nos amis sur le rivage
En partant ce matin

En partant pour un voyage sans escale
En partant
Avec nos rêves pour océan
Nous voyons nos vertes prairies disparaître
Doucement
Loin de nous loin du temps

Et farewell, adieu, so long, vaya condios
Que le ciel nous donne ce que nous cherchons
Hier encore, le vin était bien plus doux que du miel
Dieu que ce temps, que ce temps était bon

En partant sur un bateau imaginaire
En marchant sur un vieux chemin de poussières
Chaque instant qu`il nous sera donné de vivre
Nous en ferons une légende pour nos enfants

Et farewell, adieu, so long, vaya condios
Que le ciel nous donne ce que nous cherchons
Hier encore le vin était bien plus doux que du miel
Dieu que ce temps, que ce temps était bon
Dieu que ce temps, que ce temps était bon

Sunday, May 14, 2017

                               Mẹ hiền yêu dấu.

                                 Nhạc Pháp / Sáng tác : Claude Carrère 
                                 Lời Việt : Ca sĩ Thanh Lan trước 75
                                 Ca sĩ : Ngọc Lan
  

Em..

Những ngày cuối tháng năm,  chị lại nghe quá nhớ nhà. Mới đó mà đã sáu năm..
Lần cuối, lúc hai chị em mình ngồi ở hàng hiên, nơi ghế đá Má thường ngồi mỗi sáng , em nắm tay chị. Lúc đó, mắt em buồn u ám như trời sắp mưa..
" Chị Hai, chị về lần nầy chắc không bao giờ chị về thăm tụi em nữa.."
" Sao không về nữa. Chị sẽ về với tụi em mà "
" má chết rồi, chị đâu về làm chi '
Chị hơi ngơ ngẩn khi nghe em nói, trong lòng chị, lúc ấy, hình như có chút buồn bã lẫn hồ nghi. Chị còn các em ở đây, dù ba má mất , chị cũng phải về thăm tụi em..Chị phải làm điều đó, đơn giản là chị thương, rất thương các em, đơn giản trong da thịt nầy còn chảy giòng máu ruột rà..
Vậy mà..Qua sáu lần giỗ Má .. có thể thêm sáu lần nữa, hoặc hơn..chị đã không giữ được lời hứa của mình.
Mỗi ngày chị già hơn, bịnh tật nhiều hơn, và đường bay thời gian xa vời vợi.
Bây giờ , sâu tận trong lòng, chị không còn nghĩ đến chuyện về Việt nam nữa..
Không phải cuộc sống làm chị thay đổi, mà thời gian đã bào mòn sức khỏe của chị, và mỗi ngày, chị có cảm tưởng như.. những ngón tay của chúng mình càng lúc càng rời rạc nhau..

Chị vẫn nhớ căn nhà hồi Má còn sống. Mỗi lần chị về là mỗi ngày hội. Sáng sớm, tụi em dậy đi chợ sớm, tìm mua thức ăn nào ngon nhất, trái cây nào chị thích để dành cho chị. Chị vẫn chưa ra khỏi giường, nằm nghe tiếng bước chân Má vừa vòng qua võng, tiếng V. thắp nhang tụng kinh sớm, tiếng xe honda chạy xình xình bên hông nhà trên đường lộ, tiếng gà quang quác, và heo ủn ỉn đòi ăn từ nhà hàng xóm. Chị nghe cả tiếng chân người lt xt đi chợ và mấy bà hàng xóm cắp giỏ đi về phía chợ nhỏ..Chị thích nghe những âm thanh chộn rộn đó, mọi nhộn nhịp về một ngày bắt đầu ở vùng quê thật đơn giản như  mọi biến động xã hội  ở một thế giới nào khác, chưa hề vượt qua cái cổng chào kết lá dừa tạm bợ với hai cây tre èo  uột đón nắng gió, đón đám buị thốc bên đường.

Chợ nhỏ, bà con hàng xóm quần tụ nhau từ thời Đệ nhất Cộng hoà nên ai nấy sống với nhau bằng tình người giản dị, trong sáng. bằng sự gắn bó yêu thương. “Xóm mình , hình như ít xảy ra trôm cắp ." trộm cắp. nó ở đâu xa lắm, ở miết đâu ngoài tỉnh á, cô hai" Ngoài tỉnh là dân tứ xứ, cách xóm mình chỉ vài cây số mà nghe xa lắc, lạ hoắc.
Cái chợ, nói là nhỏ chớ diện tích chợ rộng lắm, sạp hàng lềnh khênh. Món gì cũng có. Rau, trái cây tươi từ rẫy mang về, lá xanh mơn mởn óng ánh nước. 
Cũng khu chợ nầy, đêm nào chị sắp đi, má và chị đứng ở cột đèn kia. Lúc đó, chợ chỉ là bãi đất hoang lèo tèo hàng cao su. Chị nhớ hôm đó má mặc chiếc áo bà ba màu xám, có lẽ đó là chiếc áo lành lặn nhứt của Má, lúc đó, chị hứa trong lòng sẽ không để má và các em phải khổ thêm nữa, chị muốn làm rất nhiều điều cho gia đình mình...nhưng giữa lời hứa và việc làm khi  cách xa nửa vòng trái đất, đôi khi cũng thăm thẳm như đại dương kia..
Nhiều bâng khuâng và nuối tiếc. 
Nhiều ray rức không thể nói thành lời…

Và chị thấm thía làm sao, đôi mắt buồn rầu của em, câu nói thoáng nhẹ hiu hắt gió " Chắc không bao giờ chị về thăm tụi em nữa đâu..Phải không chị hai ?"

Em à..Chị xin lỗi các em.

Sunday, May 7, 2017


                                  Mong chờ ( nhạc Xuân Tiên )
                                  Ca sĩ Hoàng Oanh 




Kìa trăng lên cao đang soi sáng 
Dòng Hương Giang kia như lơ đãng 
Mặc thuyền bồng bềnh theo bóng thời gian 
Thuyền ơi sao lênh đênh trôi mãi? 
Về đâu ngang qua hay dừng lại 
Dừng lại để tôi nhắn ai vài câu.

Kìa chim ăn đêm kêu xao xác 
Lòng tôi đang bâng khuâng ngơ ngác 
Nhìn mây mây bay tan tác vì đâu 
Đàn ai buông to bên trăng sáng 
Hòa theo câu ca thêm nhịp nhàng 
Nhịp nhàng lời ca tiếng nhạc còn vang 

Ơi! Ới mong chờ 
Con thuyền trôi
Thuyền trôi về bên bến ni 

Ơi! Ới con thuyền 
Ới thuyền đừng 
Thuyền đừng theo gió, gió đi.

Thuyền ai trôi êm trên sông vắng 
Dường như vô tư không lo lắng 
Hồn còn ngập ngừng trong ánh vàng tan 
Nhìn theo xa xa ai buông lái 
Mà đi đi sao không dừng lại 
Để người chờ như hoa héo màu phai.


Em. Mỗi lần nghe Mong chờ, chị lại nhớ quá đôi mắt buồn buồn xa vắng của Má.
Có lẽ,má đang nhớ về quê ngoại, nhớ ngôi nhà tự của ông bà nằm bình yên dưới tàng cây xanh mát Thanh trà, nhớ con đường làng quanh co đường đất, bà ngoại mình áo dài nâu quẩy gánh ra chợ sớm.
.Em à.. Không biết khi em nghe " Mà đi đi sao không dừng lại, để người chờ như hoa héo màu phai.."em có buồn như chị không em ?

Sunday, April 30, 2017

  

                                               (ảnh sưu tầm) 

30/4 LÀ NGÀY GÌ ?

Khi bánh xích xe tăng đầu tiên cán nát Dinh Độc Lập 11: 30 ngày 30/4/1975 cả miền bắc đổ ra đường vỗ tay ăn mừng chiến thắng. Một bi hài trớ trêu của lịch sử vì họ không hề biết rằng họ đang ăn mừng cái ngày dân tộc Việt Nam đặt một chân vào vòng nô lệ của kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Những người có tầm nhìn lịch sử sâu xa như tổng thống Mỹ Reagan đã thấy được tương lai . Ông nói "Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau."
Tại sao người Mỹ lại nói như vậy ? Và cũng tại sao ông Ngô Đình Nhu cũng khẳng định :"Sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần nữa."
( Chính đề Việt Nam) ?
Bởi lẻ họ đã nhìn ra dã tâm xâm lược của Trung Cộng , một nước khổng lồ có 1,3 tỷ dân , điều mà lịch sử ông cha ta 4000 năm đã hết sức cảnh giác.
Tại sao Nhật Hoàng ngay sau khi kết thúc thế chiến đã không ngần ngại bị tước hết quyền lực bởi một bản hiến pháp do quân đội viễn chinh áp đặt để đặt quyền dân chủ lên trên tất cả? Bởi vì ông biết Nhật đang sống cạnh Trung Hoa, chỉ có nền dân chủ và nước Mỹ mới cứu lấy nước Nhật khỏi bị Trung Cộng nuốt chửng.
Tại sao người Mỹ chỉ vào miền Nam để ngăn chặn cộng sản mà bỏ qua 8 bức thư kêu gọi của Hồ Chí Minh gởi cho tổng thống Mỹ Truman? Bởi vì họ biết rõ Hồ Chí Minh là người của "Quốc tế cộng sản" , một tên nội gián do Trung Hoa cài đặt. Họ thực hiện đường lối "NO WIN" là biết tự lượng sức mình ,không thể đương đầu với một đất nước đông dân như Trung Hoa, điều đã từng xảy ra khi ủng hộ Nam Hàn đuổi Bắc Hàn đến sông Áp Lục. Đánh nhau với Trung Cộng trên một lãnh thổ sát nách họ là một sự sa lầy cho cả nước Mỹ. Khi rời bỏ miền Nam họ cũng vô cùng luyến tiếc . Nhưng không còn cách nào khác. Nước Mỹ không nợ gì nhân dân miền Nam, không hề phản bội nhân dân Việt Nam vì họ đã để lại mảnh đất này 58.000 binh sĩ và hàng trăm tỷ Mỹ Kim. Họ đã giải quyết rốt ráo vấn đề hậu quả của chiến tranh bằng các chương trình tái định cư ODP, HO, con lai...
Chính nhân dân Việt Nam nợ nhân dân Việt Nam.
Món nợ nhận thức.
Tổng thống Mỹ Reagan cũng có một câu nói để đời :"Dân chủ đáng giá chết để đổi lấy, bởi vì nó là một cơ chế chính phủ danh dự nhất được thành lập bởi nhân loại."
Tiếc rằng người dân Việt nam chẳng hề thấm thía câu nói này.
Chỉ có một chính phủ dân chủ mới có thể ngăn chặn được xâm lược. Nhưng những người lính miền Bắc không hề hiểu thế nào là dân chủ. Họ đang cầm súng hủy hoại ngay chính tương lai dân tộc mình nhưng họ vẫn cứ nghĩ là đang chiến đấu cho ngày hòa bình,thống nhất đất nước.
Đến hôm nay ta có thể khẳng định chắc chắn rằng nước Việt Nam thực sự đã mất vào tay Trung Cộng, không có cách gì cứu vãn. Bởi vì nó đã diễn ra trong cả một quá trình cả trăm năm chứ không phải chỉ vài năm gần đây.
Mất từ khi dân tộc Việt Nam để Việt Minh cướp chính quyền.
Mất từ khi dân tộc Việt Nam để Võ Nguyên Giáp thanh toán các đảng phái đối lập trong vụ án Ôn Như Hầu và tiến hành độc đảng.
Mất từ khi Hồ Chí Minh cầu cứu Trung Cộng , Phạm Văn Đồng ký kết công hàm thừa nhận lãnh hải 12 hải lý của Chu Ân Lai.
Mất từ khi tiến hành cải cách ruộng đất đặt dưới tay các cố vấn Trung Cộng .
Mất từ khi chủ nghĩa xét lại của ông Hoàng Minh Chính bị bóp chết.
Mất từ khi Lê Duẫn và Lê Đức Thọ đưa quân đánh chiếm miền Nam.
Và đỉnh điểm của mất nước là đúng vào thời điểm bánh xích xe tăng cán nát cột cờ dinh Độc Lập. Vì chỉ có một nền dân chủ mới giữ được nước mà thôi. Nền dân chủ ấy chết xem như nước đã mất và 30/4 chính là ngày tang chung. Tang cho cả những người lính đang cầm súng tiến hành cái gọi là "giải phóng Sài Gòn". Không ,họ không hề giải phóng . Phải gọi chính xác là họ đang đặt những viên đá đầu tiên cho một ngàn năm nô lệ của giặc phương Bắc.
Những gì xảy ra sau này chỉ là mối bất hòa của hai kẻ đã từng thông đồng với nhau trước đó.
17/2/1979 đừng nghĩ rằng đó là một cuộc chiến chống xâm lược. Không hề. Đó chỉ là một cơn tức giận của gã chủ nợ với con nợ muốn phản bội giấy nợ đã ký để quay qua tên chủ nợ khác (Liên Xô).
Và 4/3/1988 chỉ là xoa giận chủ nợ nên hy sinh 64 con tốt thí.
Năm 1990 chính là năm ký kết giao kèo hồi quy và 30 năm sau đó là để cụ thể hóa tiến trình này.
Việt Nam chỉ có thể chống lại một trận chiến xâm lược khi quân đội xâm lược đó mặc áo lính. Khi quân đội đó mặc áo dân và đã thâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam thì vô phương. Điều này cũng giống như quân đội Mỹ,một quân đội hùng hậu nhất thế giới cũng phải bó tay khi dân Việt Nam mặc áo lính. Vì họ không thể giết dân nên đành phải kéo quân về.
Trung Cộng lại là sư phụ của Việt Nam về "chiến tranh nhân dân". Chúng sẽ dùng dân Tau tại Việt Nam để nội ứng ngoại hợp. Chưa kể lực lượng quân sự của Trung Cong đưng thứ hai tren thế giới. Cho dù quân đội này có đứng yên làm bia cho dân Việt Nam tập bắn, bắn cũng không hết vì chúng quá đông. Chết lớp này có lớp khác bổ sung ngay.
Khi anh đã mở cửa cho giặc vào nhà thì anh phải chấp nhận sự thật cho dù đau đớn nhất. Một sự thật đã được báo trước. Nhưng đáng buồn cười khi trong nước vẫn còn những kẻ đăng lên FB chửi xéo ngày 30/4 là ngày thất trận của bọn cờ vàng ,ba que, chụp những tấm hình khoe về xa lộ Việt nam đẹp và hiện đại như thế nào...

Chúng ta không thể trách họ mà chỉ tội nghiệp thay cho họ,tội nghiệp cho dân tộc Việt Nam. Bởi một lẻ đơn giản tư duy và tầm nhìn của họ chỉ đến mức đó.

( từ FB của Dương Hoài Linh )

Saturday, April 29, 2017

·Khúc tháng Tư... 
.
GIỌT NƯỚC MẮT BỊ BỎ QUÊN
 ( Phạm Hồng Ân )

Vài năm trước, tôi có nhận được cú điện thoại thống thiết của thằng cháu ruột, từ Việt Nam.
- Chú ơi! Hồ sơ của Ba cháu, chú đã mang theo qua Mỹ gần 15 năm rồi. Chú có nộp vào các chương trình nhân đạo của Mỹ chưa chú? Tụi con bây giờ nghèo khổ lắm! Tụi con muốn qua Mỹ làm ăn để phụ giúp gia đình. Ở đây bây giờ khó kiếm việc làm. Muốn vào hãng xưởng, mình phải có thân thế, hoặc có tiền hối lộ...chú ơi!
Tôi lặng lẽ giây lát, rồi bùi ngùi nói với cháu:
- Hoàn cảnh gia đình cháu không nằm trong diện nào của chương trình nhân đạo Mỹ. Chú đã tìm mọi cách để giúp đỡ các cháu, nhưng cuối cùng đành bó tay. Hơn nữa, bây giờ kinh tế Mỹ đang bị suy thoái một cách trầm trọng. Tìm kế sinh nhai ở bên này cũng rất khó cháu ạ!
Cú điện thoại chấm dứt, nhưng tôi vẫn còn cầm ống nghe, thẫn thờ như kẻ mất hồn. 17 năm qua, hồ sơ của anh tôi vẫn nằm yên trong ngăn tủ. Một hồ sơ của tên lính, một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa...đã gục ngã ở nơi nào đó trên đường rút quân kinh hoàng vào tháng 3 năm 1975. Tôi đau khổ kéo ngăn tủ. Đây rồi. Tấm ảnh mặc quân phục oai nghi của anh tôi, vừa rơi ra, từ mảnh bằng tốt nghiệp khóa Chiến Tranh Chính Trị. Và kia là bản Tướng Mạo Quân Vụ. Tất cả, với thời gian trôi qua, chất chồng... màu giấy đã xao xác ố vàng. Đại Úy Phạm Hữu Nghĩa, sư đoàn II bộ binh, Bộ Tư Lệnh đóng tại Quảng Ngãi. Với tôi, anh Nghĩa vẫn còn là một quân nhân tại ngũ. Bởi anh chưa trút bỏ quân phục, chưa đào thoát, chưa cam chịu ngục tù, chưa cao bay xa chạy ra nước ngoài. Anh đã hiên ngang nằm xuống cho quê hương, nằm với linh cảm cuối cùng: hy sinh vì đất nước...Dòng chữ cứng cáp và rõ nét của anh vẫn mồn một trên tờ "sơ mi" màu xanh: ngày 10 tháng 2 năm 1975 thuyên chuyển về Quảng Ngãi, em và các con thân yêu:Vũ, Thụy, Uyển và Ngạn ở lại an bình. Lời viết như một trăn trối cuối cùng. Như một định mệnh trớ trêu, tạo hóa an bài. Ngày anh về Quảng Ngãi, chị Liên ( vợ anh) vừa sanh cháu Thục Ngạn được 6 tháng. Cháu lớn nhất là Thạch Vũ, chỉ mới 5 tuổi đầu. Bốn đứa con còn quá nhỏ. Chị Liên không đủ sức đùm bọc. May có bà mẹ ở chung, dù Bà đã gần 70, nhưng mỗi sáng vẫn đội thúng bánh chưng trên đầu, khom lưng đi khắp chợ Phú Nhuận để bán dạo. Tôi vẫn còn nhớ con hẻm chật chội dẫn vào nhà chị Liên trên đường Nguyễn Huỳnh Đức. Con hẻm đã chật chội, nhà chị Liên lại càng chật chội hơn, Căn nhà quá nhỏ bé, chỉ đủ kê được một chiếc giường con, và khoảng trống nhỏ vừa vặn chiếc ghế bố nhà binh cho bà cụ. Anh Nghĩa , chị Liên và cháu út thì được ngủ trên giường. Còn 3 đứa lớn thì nằm lăn xuống nền xi măng, ôm nhau dỗ giấc. Căn nhà may mắn có thêm 1 gác xép tí tẹo. Tất cả mọi vật dụng dồn hết lên đó, kể cả những quyển sách thơ văn của tôi mà anh cố tình giữ lại. Anh về sư đoàn II vỏn vẹn vài tuần, chưa kịp gửi thư về thăm vợ con, thì chiến tranh bất thần bùng nổ. Sư đoàn đang chuẩn bị chiến đấu, trớ trêu thay, có lệnh rút quân. Quân rút, dân chạy theo. Cuộc hỗn loạn xảy ra. Cộng quân lợi dụng tình thế bất ổn, trút vào đám đông di tản những tràng pháo kích dã man cùng cực.
Sư đoàn II về được Sài Gòn, sau những ngày rút quân kinh hoàng. Sư đoàn tạm trú trong các trường học trên đại lộ Trần Quốc Toản. Chị Liên bồng bé Thục Ngạn, dắt theo ba đứa con nheo nhóc tìm chồng. Chị hỏi cấp chỉ huy. Chị xuống nước năn nỉ từng người lính vừa từ địa ngục trở về. Ở đâu, người nào cũng chỉ trả lời một cách vắn tắt, mập mờ. Cũng không trách họ được. Họ đang mệt mỏi. Họ mới thoát khỏi cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Hơn nữa, họ đang quấn quít, mừng vui xum họp gia đình. Bỏ quên một người đàn bà dẫn bốn đứa con tìm cha, trong lúc này, là điều tất nhiên. Sư đoàn II tạm trú ở Sài Gòn bao nhiêu ngày thì chị Liên dẫn con đi tìm cha bấy nhiêu ngày. Sáng sớm, chị túm vội ít bánh chưng vào bọc nylon. Rồi, một tay bồng, một tay dắt bầy con leo lên xe buýt, xuống tận cổng tạm trú của sư đoàn II, chờ các xe nhà binh chở lính từ miền trung trở về. Ngày nào chị cũng đứng đợi cho đến khi đèn đường thắp sáng, cho đến khi các đứa con khóc thét dữ dội, chị mới chịu tất tả về nhà.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975. Quân đội Sài Gòn bị bức tử. Tất cả đơn vị tan hàng. Một số ruổi dong ra nước ngoài. Một số tuẫn tiết. Một số rút về rừng sâu, nuôi mộng phục quốc. Số còn lại bị cộng quân lùa vào trại tù, phân tán khắp nơi từ Nam ra Bắc. Tháng 5, trước khi vào trại tập trung, tôi đến thăm các cháu và từ giã chị Liên. Chị ốm hẳn. Xương cổ lồi ra. Hai nhánh tay khẳng khiu như hai que củi. Các cháu đứa khóc, đứa la, đứa xà vào lòng mẹ nũng nịu đòi ăn. Bà Má vừa đội thúng bánh chưng ra khỏi cửa. Nhìn Bà còng lưng, chậm chạp lê từng bước chân trên con hẻm ngoằn ngoèo, lòng tôi quặn lên một niềm đau khó tả. Giờ này, chị Liên vẫn trông chồng từng phút từng giây. Chị bùi ngùi với hàng nước mắt lã chã trên má:
- Anh Tư của em vẫn sống. Nhất định anh Tư phải sống. Người ta không dễ gì giết anh ấy được đâu. Chị tin chắc như vậy. Em cũng tin như vậy, phải không?
Ở trại tù vài năm, một hôm, vợ tôi báo cho biết tin buồn: Mẹ chị Liên giã từ cõi thế. Đêm đó, tôi không tài nào ngủ được. Tôi lo cho số phận chị Liên và các cháu. Làm thế nào các cháu tôi sống an bình, trong một xã hội mất đi nhân tính. Nghề thủ công thêu thùa của chị Liên, liệu có thể nuôi nổi một bầy con còn quá thơ dại? Mất Ngoại. Mất đi một cánh tay mưu sinh đắc lực cho gia đình, các cháu tôi như một bầy gà xao xác, và chị Liên sẽ thui thủi một mình với phần số cô độc.
Vì thế, sau 7 năm tù, khi cộng quân vừa thả ra, tôi vội vã đến thăm chị. Cháu Vũ chỉ 12 tuổi, tiếp tục nối nghề Ngoại: bán bánh chưng nuôi bầy em. Những đứa còn lại, có đứa ở đợ cho hàng xóm kiếm cơm, có đứa đặt vài lọ kẹo bánh ở hiên để bán cho trẻ em qua lại. Chị Liên dẹp nghề thêu, vì dân Sài Gòn bận kiếm ăn, không còn thì giờ để khoe khoang quần là áo lụa nữa. Chị Liên bây giờ có dạng bệnh tâm thần. Tóc tai xổ tung. Áo quần xốc xếch. Gặp tôi, chị hét lên, rồi bù lu bù loa than khóc một hơi. Than khóc xong, chị bỗng dậm chân xuống nền xi măng túi bụi, rồi chỉ thẳng vào mặt tôi, hét lớn:
- Anh Tư ở chung tù với em phải không? Hai anh em sống với nhau mấy năm trời mà không cho chị hay biết. Bây giờ, em giấu anh Tư ở đâu, nói mau?
Chị nắm áo tôi lôi mạnh. Chị lôi tôi khắp nhà. Vừa lôi, vừa tru tréo thảm thiết. Các cháu chạy vội lại can ngăn, chị mới buông tha, rồi ngồi phịch xuống nền nhà. Chị cúi gầm mặt xuống, lầm thầm:
- Xin lỗi. Chị mệt quá! Chị buồn quá, em ơi!
Cháu Uyển rót cho tôi một ly nước, nức nở kể chuyện về người Mẹ cho tôi nghe:
- Mẹ cháu lúc tỉnh lúc điên chú ạ! Ban đêm, Mẹ trốn nhà, lang thang ngoài đường phố nửa khuya. Có khi, tụi con hay được, bủa nhau đi tìm Mẹ. Mẹ thường ra đống rác ở ngoài chợ ngồi khóc than rên rỉ. Hoặc xuống chân cầu Kiệu la lối, múa tay múa chân trong bóng tối.
Cháu Thụy tiếp lời:
- Tụi con phải cột Mẹ vào chân giường. Đi không được, Mẹ la hét suốt đêm, không ai ngủ được. Hàng xóm than phiền lắm chú ơi!
Vài năm sau, trong lúc tôi đang cầy thuê cấy mướn ở quê vợ, thì nhận một tin buồn từ cháu Vũ gửi tới. Chị Liên bị stroke, liệt nửa người, không còn nói năng như trước nữa. Tất cả gánh nặng gia đình đều dồn lên vai bốn mái đầu xanh. Các cháu vừa bươn chải kiếm sống, vừa khổ sở nuôi thêm một bà mẹ bệnh tật.
Trước khi qua Mỹ, theo diện HO, tôi có ghé thăm các cháu lần cuối. Đêm đó, tôi nằm lăn xuống nền xi măng ngủ với các cháu. Tôi ôm hôn từng đứa, vỗ về chúng kể lể về chính mình. Chẳng có đứa nào than thân trách phận cả. Chúng chỉ nói về Mẹ, dồn tất cả tình thương về Mẹ, và cầu mong Trời Phật giúp Mẹ chúng mau mau lành bệnh. Đêm đó, dưới ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn nhỏ trên bàn thờ Mẹ chị, tôi thấy chị Liên bứt tóc xổ tung, la hét khóc than suốt đêm. Tiếng nức nở của chị trong đêm thanh vắng nghe rờn rợn, nghe thê lương ai oán biết chừng nào. Và trước khi leo lên máy bay, tôi gom tất cả giấy tờ còn lại của anh Nghĩa, với mục đích duy nhất là tìm mọi cách để đưa gia đình các cháu qua Mỹ, theo một diện nhân đạo nào đó của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ.

35 năm trôi qua, hồ sơ của anh tôi vẫn còn nằm lạnh lùng trong ngăn tủ. Các diện nhân đạo của chính phủ Mỹ không có diện nào dành cho thân nhân tử sĩ, những thân nhân đang chịu oan khiên và đau khổ cùng cực dưới chế độ cộng quân. Hoàn cảnh các cháu tôi nằm ngoài lề lòng nhân đạo của mọi người, mặc dù thế giới ngày nay, nhân loại đang cổ súy cho TÌNH YÊU THƯƠNG.
Các cơ quan thiện nguyện, các hội đoàn từ thiện, công lý, lương tâm, nhân quyền... mọc lên như nấm trên khắp thế giới. Người ta hảo tâm cho trẻ tật nguyền, trẻ mồ côi, trẻ phạm pháp, thương phế binh, đồng ngũ, đồng hương... còn kẹt lại Việt Nam. Người ta làm phúc cho chùa chiền, nhà thờ, nạn nhân thiên tai... Thậm chí họ còn giúp tiền cho những tay cộng sản gộc , hiện nay vì bất mãn quyền lợi nào đó, nên trở thành đối lập với nhà cầm quyền Hà Nội. Không có ai để ý hoặc ghé mắt đến TỬ SĨ, đến thân nhân cũa họ đang lâm nạn trên chính quê hương mình. Và cứ thế, đã 35 năm trôi qua,
 những giọt nước mắt như vậy... mãi bị bỏ quên...


(PHẠM HỒNG ÂN)

Tuesday, April 25, 2017

                            ANH Ở ĐÂY
                            Nhạc: Thục Vũ - Vũ Văn Sâm và Vũ Đức Nghiêm
                            Ca sĩ: Đoàn Chính


Anh Ở Đây

Có một hình ảnh dù những người viết lại lịch sử cố tình lãng quên, nhưng vẫn mãi in sâu trong lòng người. Hình ảnh ấy, chắc những ai đã từng sống ở miền Nam sau năm 1975 đều nhớ rõ, những chiến binh đã bị gãy súng, và đã bị ngược đãi, bị trả thù của những người "bên thắng cuộc", ngay trên mảnh đất quê hương của mình. Cái mà được gọi với một danh từ mỹ miều "trại cải tạo", thực chất là những nhà tù không hơn không kém với những bản án không bao giờ được ghi thành văn bản, những bản án không biết ngày về.

"Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây
Áo rách xác xơ vai gầy
Cùng chung kiếp sống lưu đầy
Anh ở đây, ngày này cơm chưa đầy chén
Chiều chiều xa trông đàn én
Kiếm mồi thấp thoáng bay nhanh..."

Bị lưu đày ở những nơi rừng thiêng núi độc, bị ngược đãi như những lao công trên những vùng đất hoang dã, người tù chiến binh xưa chỉ biết làm bạn với trời mây sông nước. Nhìn những cánh én lợn lờ kiếm ăn, mà lòng người chiến binh chạnh lòng về nền tự do họ hằng mong mỏi và đã bỏ công sức để giữ gìn nay không còn nữa. Nỗi buồn mất tự do của riêng mình càng thấm đậm hơn trong nỗi buồn của đồng bào khi một nền tự do ở miền Nam đã mất đi.

"... Toa liền toa, tầu đi trong ánh hoàng hôn
Tiếp nối những dư âm buồn
Thành thơ ray rứt tâm hồn
Trăng ngậm sương, mịt mờ không soi nẻo tối
Đường dài sao rơi lạc lối
Cho lòng giăng mắc không nguôi..."

Vận nước đổi thay. Số phận nghiệt ngã. Sự trả thù tàn bạo của những người mang trong mình một chủ thuyết phi nhân đã hành xác những người chiến binh trong những trại tù cải tạo.
 Thân xác kia dù đã nằm xuống trong lòng đất mẹ, vẫn để lại cho hậu thế những nỗi niềm thương nhớ không nguôi. Linh hồn của những người chiến binh xưa quyện vào hồn thiêng của dân tộc sẽ như những cánh én đem lại một mùa xuân tự do vĩnh hằng cho hậu thế mai sau.

"... Ôi người đi, về đâu khi nắng chiều phai
Nắng úa xót xa thương người
Chiều nao gục ngã trên đồi
Chim rủ nhau về rừng ru anh ngủ mãi
Hình hài tan theo cỏ cháy
Kiếp người kiệt sức buông tay"

Thành kính tri ân những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã nằm xuống trong những trại tù cải tạo sau năm 1975. Sự can trường trong chiến bại của những người lính Việt Nam Cộng Hoà chắc chắn sẽ chiếm được một chương oai hùng trong lịch sử dân tộc về sau.

( từ FB Quang An)

Sunday, April 23, 2017

                                              (ảnh Khôi Việt )

Con tôi.

Một ngày đầu năm 1977.
 "Ngày mai vác mía ra chợ, mấy ông ráng chặt cho đúng chỉ tiêu. Không thì mấy chả kiểm điểm càm ràm nhức cái đầu, ông nào gởi thư tay cho gia đình thì ráng cẩn thận. Tụi nó bắt được, không cho ra chợ nữa là tiêu cả đám." Tổ trưởng dặn dò. 
Chiều đến, cả đám ra rẫy mía chặt mỗi người khoảng 15 đến 20 cây mía, bó lại, vác hết sức thì thôi. Cột bằng dây rừng xiết thật chặt, vì đi đường xa 4 cây số nó bung ra thì rất phiền cho cả đoàn phải đúng lại chờ. Một tháng hai lần vác mía giao cho mối của trại ngoài đó. Đường xa, vác muốn kiệt lực nhưng thằng nào cũng thích đi, dù túi không tiền nhưng nhìn được thế giới bên ngoài. Cũng có thằng có tiền. Tụi nó bán đồ tù, võng...mà cũng không hiểu dân họ mua đồ tù để làm gì?. Nhuộm đen đi rồi mặc. Chúng tôi đều nghĩ như vậy. Người dân gặp ngoài chợ nhìn cũng rách rưới thảm hại chẳng kém chúng tôi. Nhưng họ vẫn lén lút thẩy cho chúng tôi cái bánh Ú, cái kẹo đậu Phộng, hoặc bánh tráng. Ngay cả bà chủ quán cóc bán cà phê, sau này tôi vô uống ở đó một lần bà cũng chỉ tính tiền rất tượng trưng. 
Ngày đó đa số chúng tôi đều mặc đồ tự may bằng bao cát, bây giờ cũng chẳng nhớ đã có từ đâu. Mà phải công nhận là vải bao cát của Mỹ bền chắc thật. Tôi có hai cái quần ngắn và hai cái áo cộc tay mặc mấy năm trời tới gần ngày về mới tưa sơ sơ vài chỗ. Kim là cọng dây kẽm uốn một đầu để xỏ chỉ cũng bằng sợi bao cát luôn. 
Công việc hàng ngày của hơn hai chục thằng tù chúng tôi là làm rẫy trồng mì, khoai lang, và khoảng ba mẫu mía. Từ lúc được đưa ra trại này, cuộc đời trở nên "huy hoàng" hơn vì ngày hai bữa được gần hai chén cơm, đôi khi được ít mắm ruốc, rau thì cả đám tự ai nấy kiếm. Rẫy mía ở sát một bên, lúc đi làm cũng lén lút ăn được một vài cây. Mía Tây trắng, loại này to cây nhưng rất mềm và ngọt, nhiều nước. Đói khổ quá, cơ thể rất thèm đường, có một tên bạn, lúc ở trong trại chính, sau khi đổi cái hộp quẹt Zippo lấy một ký đường tán từ một tay vệ binh, đã ngồi ăn gần hết. Cứ tưởng nó sẽ chết, té ra chẳng sao cả. Nơi đây mía bao la, thỉnh thoảng ăn trộm một vài cây, cũng đỡ thèm đường, và có sức để cuốc đất. Bắt được con ếch nhái nào cũng áng chừng nó ngang bằng 5,7 con tôm khô. Còn bắt được rắn hay chồn, là hôm đó bạn bè coi như đại hội. Cố tạo cho mình những cảm giác đôi khi hơi ảo tưởng, để cầm cự sống trong nỗi mong chờ gần như tuyệt vọng ngày nào đó được về với gia đình. Những lần vác mía ra chợ Katum vài tháng trước, có mấy thằng bạn lén gởi thư về gia đình. Rồi cũng đã có mấy thằng gặp được người nhà ở đây. Tất nhiên là ngồi gặp lén lút trong một quán tạp hoá nào đó. Tôi cũng đã gởi trong mấy kỳ trước, từ lúc bị bắt tới giờ chưa liên lạc gì được với gia đình, vợ con ở đâu cũng không biết. Tôi gởi về địa chỉ bà chị ở Sài Gòn, mặc dù không biết chị còn đó hay phải đi kinh tế mới?. Hôm nay tôi cũng chuẩn bị sẵn một cái thư tay rồi. 
Vác mía đi trong trời vẫn còn tối. Lầm lủi theo nhau dưới ánh trăng sớm trên đường mòn mà đi. Không ai có đồng hồ nên đoán chừng 4,5 giờ sáng. Chỉ có 12 người vác mía nên vệ binh theo chúng tôi hôm nay chỉ có 2 người. Các anh đến chợ không được đi đâu xa. Không được "quan hệ" với ai. Các anh phải nhớ các anh là những người có nợ máu với nhân dân. Nên đi đâu các anh cũng phải theo tổ ba người. Và phải cho anh tổ trưởng biết.
Lúc nào họ cũng chỉ có một sách vậy thôi. Vệ binh này là người dễ dãi nhất, dù rằng lúc đầu anh ta rất khó chịu. Chắc bị chúng tôi cảm hoá chăng? Cũng có thể như vậy. Họ cũng chẳng sợ chúng tôi trốn, hệ thống kiểm soát của họ ở đây rất chặt chẽ. Chúng tôi biết rõ điều đó. Nên cũng chẳng ngu dại gì đi trốn để bị bắn. Họ cũng biết những chuyến ra chợ chúng tôi lén gởi thơ về gia đình, có người nhà lên thăm, nhưng cũng lơ đi. Ít ra sau gần 2 năm, họ cũng đã biết phần nào sĩ quan "nguỵ" không phải như những gì họ bị tuyên truyền.
Đi chừng gần nửa đường, vác mía trên vai bắt đầu nặng dần, phải chuyển đỡ qua vai trái một lát cho vai phải đỡ mỏi. Nhiều thằng cũng đổi vai lia lịa như tôi. Tuy nhiên đoàn vẫn đi như bình thường. Ở tù cộng sản mới thấy sức chịu đựng của con người vượt qua sức tưởng tượng, kể cả nhịn đói. Có nhiều lúc đi xuyên rừng vác đồ đạc lương thực cho bọn vệ binh, nhiều bạn tù nhìn hai bên đường, thấy cái lá cây gì nhìn đẹp mắt là vặt bỏ vô miệng.
Đi sau tôi. Bảo. Nói nhỏ: hôm nay chắc tôi gặp ông già, hy vọng. 
-Ông gởi thư lần trước hả?
- Không, lần trước nữa.
-Nếu bác lên, nhờ bác đưa thư cho chị tôi nhé. 
-Xong ngay. Chỉ sợ ông già không đi nổi, cụ yếu và mắt kém trước ngày "đứt phim" mà. Nếu không, có thể em gái tôi lên.
-Bác gái có lên không? 
-Tôi nói mẹ tôi đừng đi, đường xa, đi mệt chịu không nổi. 
Chúng tôi thường gọi cái ngày tang thương 30-4 đó là ngày "đứt phim" hoặc "sập tiệm"
Đến chợ lúc trời vừa rạng sáng. Khu chợ này chắc hình thành sau 75, chứ trước kia trong bản đồ chỉ toàn là rừng, ngoại trừ căn cứ của sư đoàn 25 Hoa Kỳ và lực lượng đặc biệt Việt Nam. Mọi vận chuyển từ Katum với Tây Ninh đều bằng trực thăng. Đường bộ có tráng nhựa dài khoảng 60 km nhưng không thể xử dụng được vì luôn bị gài mìn đắp mô, bắn phá bởi du kích. Nhìn chợ rất nghèo nàn, toàn là nhà tranh hoặc nhà tôn cũ kỹ rỉ sét, giữa một bãi đất trống cạnh con đường nhựa, đã bị hư hại rất nhiều, nhưng cũng có quán cà phê và hủ tíu. Chắc để phục vụ những tài xế và phụ xe be chở cây, chạy rất thường xuyên trên đường, vì lần nào ra chợ chúng tôi cũng thấy. Katum, Tây Ninh là rừng già bạt ngàn, gỗ quí không phải là ít. Có hai hay ba tiệm bán tạp hoá nhưng tôi chưa bước vào bao giờ, vì lý do duy nhất là không có tiền. Nhưng tôi lần nào cũng xin đi vác mía. Vì ít ra cũng có dịp để thấy lại thế giới loài người, dù rằng cái thế giới đó nghèo nàn thảm hại, cũng còn hơn cái địa ngục tôi đang sống, đang đói và đang phải làm việc khổ sai một ngày 10 tiếng đồng hồ.
Xếp mía thành đống xong. Như thường lệ, vệ binh cho chúng tôi 1 tiếng để nghỉ ngơi, được đi mua bán ăn uống gì đó tuỳ thích, nhưng luôn phải đi theo tổ 3 người. Xong. Hai cậu vệ binh cũng chui vào quán, thưởng thức cái nồi ngồi trên cái cốc.
Bảo giật vai tôi. Bố tôi kìa. 
Tôi nhìn theo hướng tay chỉ.Thấy ông đứng đó, một mình, giữa khoảng đất trống, dáng nhỏ gầy, mặc bộ bà ba nâu, râu tóc bạc phơ. Tôi và Bảo rảo bước tới gần mà hình như ông vẫn chưa nhận ra. Tới lúc tôi chào, và Bảo nói: 
Bố. Không nhận ra con à. 
Ông cụ chợt giơ hai tay ra phía trước, chớp cặp mắt mờ đục. Chắc ông không thể tưởng tượng được đứa con trai của ông trong một bộ dáng tiều tuỵ như vậy.
Ông ôm chầm lấy nó, kêu lên nghẹn ngào: Con tôi !

Rồi hai cha con cùng khóc.

Nguyễn Khôi Việt

Tuesday, April 18, 2017

                                                 
                                           Vô cùng thương tiếc 
                                           Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhân                                                                                      

Khoảng giữa năm 1977, tiểu đoàn tù binh chúng tôi được phân tán ra để chuyển trại đi nhiều nơi. Một số đi đâu không rõ, còn chúng tôi mấy chục mạng được về Hóc Môn, căn cứ của liên đoàn 5 Công Binh cũ. Bị cầm tù trong rừng rú hai năm trời, về một nơi có nhà cửa tường xây, mái lợp fibro ,nhiều người cảm động quỳ ôm nền xi măng quen thuộc, vì đã tưởng như sẽ không bao giờ gặp lại những gì gọi là thế giới văn minh nữa. 
Ở đây không có đất để cuốc đất trồng khoai hay củ mì, nên ngoài những lúc đi làm cỏ cạnh hàng rào hay vệ sinh quanh chỗ ở, chúng tôi phải đi rỡ mái tôn của những khu nhà còn rất đẹp trong trại. Tháo gỡ những bồn cầu của khu nhà vệ sinh. Trong lòng người nào cũng tiếc hùi hụi khi phải phá bỏ những ngôi nhà đẹp đẽ như vậy. Sau mới biết họ sai chúng tôi tháo dỡ tôn, bồn cầu, thậm chí cả gạch bông, cửa sổ để bán, hoặc đem ra Bắc.
Và lúc ấy tôi nhận ra, không xa lắm, cách chúng tôi một hàng rào ngang qua ban quản giáo, là khu của các chị nữ quân nhân.
Lúc ấy gạo không có, đồ ăn sáng và chiều chỉ có hai miếng bột mì luộc bằng lòng bàn tay. Xen kẽ với những ngày ăn bột là những ngày ăn khoai lang, một ngày được 4 củ khoai lang dài chừng gang tay. Ăn xong có nhiều người vào chỗ nằm không dám động đậy vì sợ "tiêu hết năng lượng". Ở trại này chẳng có gì ngoài những xe cần cẩu, xe ủi ngổn ngang nằm đợi rỉ sét và những cây bã đậu. Cũng đã có người đói quá ăn cả hột bã đậu, và sau đó đi cầu không ngớt vì hột bã đậu là một loại thuốc xổ mạnh. Một tay dược sĩ, tất nhiên rõ những gì độc hoặc không độc, đi vớt cả thau nòng nọc cóc, nhưng cứ nhất định là ăn được. Con gì ngo ngoe là ăn được hết. Anh ta nói. Tất nhiên chúng tôi xúm vào giựt cái thau đó đổ đi. Hình như cái đói làm con người không còn lý trí gì nữa. Vì vậy có nhiều người "bị" kêu lên "làm việc", được cho ăn vài bữa no nê và những lời hứa hẹn. Sau đó đã cam tâm làm antenne cho họ. Bán đứng đồng đội.
Một thời gian sau, có vẻ như được tiếp tế nhiều hơn từ Liên Xô. Lượng bột mì cũng khá hơn. Ăn bột luộc riết không nổi, mấy tay trưởng khối đề nghị với họ làm lò bánh mì. Nhờ đôi chút "kiến thức" tôi được ở trong đội làm bánh mì.
Công việc này cực vì gần như làm suốt ngày nhồi bột, làm bánh, nướng bánh, đốt lò. Nhưng được cái no bụng vì ăn bánh mì thả giàn, và "chôm" bột đã nhồi về cho bạn bè tha hồ nấu nướng, làm bánh canh.
Lò bánh mì không xa các chị nữ quân nhân là mấy, chỉ cách một hàng rào kẽm gai. Khu nhà vệ binh và quản giáo cũng không gần, để đôi khi tôi có thể nói dăm ba câu thăm hỏi, và để lên tinh thần lẫn nhau.
Nhưng thật bất ngờ, một thời gian sau khi tiếp xúc một số chị, những người đàn bà chân yếu tay mềm kia, đều có một tinh thần sắt thép cứng cỏi. Không đội trời chung với Việt cộng. Thay vì chúng tôi an ủi họ, thì họ lại dạy cho chúng tôi phải luôn luôn giữ vững lập trường Quốc Gia. Đừng để "chúng nó" khuất phục các anh, chết vinh hơn sống nhục. Các anh đừng lo cho chúng tôi. Ở đây chúng tôi trăm người đều đồng lòng như nhau.
Gặp các chị không nhiều, và cũng không nói được nhiều. Nhưng từ xa họ gởi cho chúng tôi những cái gật đầu, ngước mặt, và những ánh mắt rực lửa căm hờn. Các anh nói nhau đừng bao giờ làm antenne cho tụi nó. Hèn hạ lắm.
Tất nhiên những thằng tù chúng tôi phục sát đất sự cứng cỏi, sắt đá của những người nữ quân nhân trước kia chỉ quen với công việc bàn giấy văn phòng hơn là súng đạn.
Vài tháng sau đội của chúng tôi chuyển lên Phước Long.
Trong tâm trí tôi đến giờ, những người bạn chiến binh nữ quân nhân đó vẫn để trong tôi một niềm kính phục và thương mến.
Và ngày hôm nay. Sáng thứ Ba, lúc 1:43AM, ngày 18 tháng Tư, Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn qua đời tại Little Saigon, California.
Chúng tôi, những người lính, thương phế binh, quả phụ Việt Nam Cộng Hoà luôn nhớ ơn chị.
Và Tổ Quốc Tri Ân chị, Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.

 (Khôi Việt )

                               Nữ quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa