Monday, June 17, 2019


                                      Thu Thuyền và Bố 

Tháng giêng cuối cùng bên Bố.
Tiếng bánh máy bay chạm vào phi đạo, đánh thức từng tế bào háo hức trong tôi. Không cần chờ phi hành đoàn cho phép, tôi mở khoá thắt lưng an toàn và nhanh nhẹn lách ra khỏi chỗ ngồi. Ai cũng muốn ra trạm hành lý trước nhưng tôi là người đầu tiên lái xe ra khỏi phi trường. Ðơn giản: Tôi chỉ có bộ quần áo trên người và một túi quà Tết trong tay! Phi trường San José gần chỗ của bố lắm. Chao ơi là nôn nao! Còn có 15 phút là gặp được bố, không ngờ tôi lại đi lạc! Phải đánh xe mấy vòng quẹo chữ U, đến hơn một tiếng, tôi mới trờ tới bãi đậu xe của viện dưỡng lão kiêm dưỡng đường Mission de la Casa.

Ðáng lẽ tôi chẳng đi gặp bố vào dịp Tết Bính Tuất nếu anh tôi không bận công việc. Nghe tin anh hủy chuyến thăm, tôi vội lấy vé đi sáng, về chiều, ngay hôm Chủ Nhật Mồng Một Tết. Tôi cũng bị công việc quấn lấy chân chỉ thăm bố được vài tiếng dù rất muốn ở lại San José thêm ngày Mồng Hai. Bình thường, tôi khá lề mề. Không thăm bố chuyến Tết thì sẽ có chuyến mừng sinh nhật vào tháng Năm. Không hiểu sao tôi lại cứng đầu khăng khăng quyết định: Tết năm nay ít nhất phải có một đứa đến mừng tuổi bố. Giá nào cũng đi. Chồng biết tánh, không cản tôi một câu.

Tôi đã dặn cả nhà đừng nói cho bố hay về chuyến đi của tôi, thế mà khi vào đại sảnh của Mission de la Casa, đã thấy bố ngồi chờ trên xe lăn. Mắt bố hướng về cửa chính, trên người khoác chiếc áo len xanh dương sọc trắng của tôi gửi biếu tháng trước. Tôi reo: "Bố!" Ðôi mắt bố lấp lánh. Cả khuôn mặt bố rạng rỡ. Sau này tôi vẫn nói với chồng, nhìn bố lúc ấy, thật không bõ công bay xa, đi lạc! Tôi ôm chầm lấy bố, liếng thoắng kể chuyện lái xe loanh quanh mãi không ra được xa lộ, tả cho bố nghe phố xá tràn ngập người mua sắm, đi chùa hái lộc đầu năm.

Vừa nói, vừa đẩy xe đưa bố về phòng. Trong phòng, tôi lại rối rít móc túi trên túi dưới lấy quà cáp, tiền mừng tuổi của cả nhà tặng. Quấn tay con khỉ nhồi bông, cháu Hiu Hiu biếu ông ngoại, vào thành giường. Hí hoáy nhét những tờ hai mươi đô vào cuốn sách thánh kinh để bố có tiền tiêu vặt. Dúi mấy cuộn 25 xu vào một cái gối ôm, xếp ngay ngắn dưới chân giường. Vừa làm, vừa hỏi lung tung. "Bố có thích cà phê Lee's Sandwich không, con ra mua về?" "OK" "Bố ăn chuối chiên, con mua luôn một thể!" "Ừ!" "Mua thêm bơ với thịt nguội bố con mình nhâm nhi với rượu vang không bố?" "Con để bạc cắc trong đây, lúc mua báo bố chỉ việc khều ra!" "OK!" "Ðừng quên nhé!" "Ừ..." "Có sợ nhân viện họ dọn phòng, dọn cả tiền ra không?" "Không".

Những giây phút mới gặp, bố tôi dường như còn bị choáng, cứ trả lời từng nhát một. Tôi thì muôn đời bắng nhắng. Hỏi chưa nghe ra câu trả lời đã bắc sang câu kế, chưa kịp biết bố có đồng ý đã nhảy ngay ra Lee's Sandwich đem về lũ khũ cà phê sữa đá, chuối chiên, pâté, bánh giò... Một ít xếp vào tủ lạnh. Còn lại, bày đầy ra bàn. Hai bố con nhìn "mâm cỗ Tết", không biết phải bắt đầu bằng món gì trước, chợt có bà cụ lăn xe ngang phòng 128 của bố, thấy nhộn nhịp, dừng mắt lại vài giây: "Con ông Tuấn về chúc Tết đấy à?" Bố tôi vênh vang gật đầu như thầm nói, "Tôi bảnh chưa? Con ở mãi tận Texas lặn lội về đây thăm đấy!" Bà cụ chặc lưỡi: "Con gái tôi hôm nay bận không thăm được nhưng hôm qua có tới đưa gói mứt, để tôi về phòng đem qua đây ăn cho vui". Nhưng bố tôi cản nhanh: "Thôi bà ạ. Cháu nó sắp đưa tôi ra ngoài rồi!" Nhìn gương mặt phúc hậu của cụ bà chùng xuống, tôi thấy thắt cả ruột!

Vừa lúc ấy, cô Trâm, tri kỷ của bố, tới. Bố phán ngay, "Em đưa hai bố con về nhà!" Tôi chưng hửng nhìn cô Trâm rồi quay lại nhìn bố "Nhà... cái gì?" Bố không đáp chỉ tủm tỉm. Cô Trâm ríu rít khoe: "Nghe tin cháu sang thăm, bố hành cô quá chừng. Bắt cô sửa soạn nhà cửa cho tươm tất, trang hoàng thật rực rờ để cùng đón Xuân. Bố ngang lắm cháu ạ! Có phòng ở Mission de la Casa mà nhất định đòi phải mướn nhà ở ngoài thêm để lâu lâu buồn, còn nhảy dù ra ngoài ở cho vui..."

Thế là cả ba ra văn phòng ký giấy tờ rời viện, lên xe "về nhà"!

Nhà bố là một căn hộ trong khu chung cư khá gần Mission de la Casa. Mở cửa vào là một rừng hoa. Hồi xưa ở Ðàlạt, mỗi năm Tết đến, mẹ đều cắm một cành đào thật to trong cái thống lớn giữa nhà, cành đào khúc khuỷu rêu bám bạc nhiều chỗ nhưng rộ những hoa và có rất nhiều nụ xinh lấm tấm. Bây giờ không biết cô Trâm thỉnh tận đâu được một cành đào cũng chi chít những cánh hoa. Lại có cả bình hồng nhung đó thắm trên bàn ăn và hai chậu cúc đại đóa vàng rực trong phòng khách. Cô Trâm còn than, Năm nay cô mua hụt giò Thủy Tiên 60 đô. Tiếc ghê! Tôi nghe giá Thủy Tiên, phát khớp ngang! Bố không giàu nhưng tiêu xài khá mạnh tay. Ðối với tôi, bánh trái có lý cho bao tử hơn hoa nhưng đối với bố và cô Trâm, hoa là những món ăn tinh thần không thể thiếu. Biết tính bố, mỗi lần về thăm, chị tôi vẫn ra mua mấy chậu thổ lan chưng trong phòng bố. Vừa có hoa đẹp, lại giữ được vài tuần chứ ở trong viện, họ để hệ thống sưởi quá nóng, chỉ hai ngày là hoa nào trong bình cũng gục hết!

Trong lúc cô Trâm dắt tôi đi xem nhà, bố ngồi trong phòng khách, ngả lưng lim dim mơ màng. Nếu có thêm điếu thuốc trên tay, bố sẽ giống hệt như hồi xưa, lúc đang sáng tác. Tôi để ý bố ít nói hẳn. Chỉ có cô Trâm và tôi đàm đạo vang nhà. Cô Trâm kể tội bố chướng, không chịu cho ai tắm ngoài cô. Lại hay cáu giận hờn lẫy, nói hớ một câu là không xong với bố. Ngày nào thăm bố trễ là những lời trách móc rót vào đầy tai cô... Tôi bênh, Bố thích nhõng nhẽo lại được cô chiều, tội gì không đòi quyền sống chứ! Nói xong liếc xéo ra phía bố, thấy người rung đùi khoan khoái. Lâu lâu tôi quay lại hỏi bố một câu nhưng người chỉ ừ hử. Ít ra lúc này, tôi bắt được hình ảnh bố rất hạnh phúc.

Tôi lấy quà Tết ra biếu Cô Trâm. Cô mở hộp, thích thú nhìn chiếc khăn quàng cổ bằng len trắng. Tôi khoe: "Cháu đan đấy. Bận quá đan vội, thể nào cũng sót vài mũi cô ạ!" Bố không nhịn được, cắt lời/nịnh: "Cô Trâm là vua đan áo." Cô Trâm thích chí cười khanh khách. Ðến lúc cô mở thiệp, thấy tiền mừng tuổi rơi lả tả, cô giật mình, Ối giời! Có cả "nhân" nữa à? Tôi vội nói, Vâng! "Nhân" là quà của cả nhà gửi ạ. Cô Trâm bảo ngay: Cô tính đánh cho bố sợi dây vàng 24K để bố đeo ngọc cẩm thạch cho giảm đau. Vậy là ngày mai cô có thể ra tiệm vàng rồi. Tôi chả tin các loại mẹo vặt giảm đau mau lành. Nhất là vàng bạc đeo lúc này chả tiện, dưỡng đường bao nhiêu kẻ ra người vào... Ðịnh cản cô Trâm nhưng thấy bố đang phởn râu sung sướng, tôi bèn im!

Ngồi một lát, bố muốn đi ăn bún riêu. Thế là cả ba lên xe. Chạy chưa được bao xa, cô Trâm đề nghị kiếm chỗ đậu để đi bộ vì đường kẹt như hũ nút. Tôi đồng ý ngay. Ði thoăn thoắt một quãng, tôi quay lại thấy bố chống gậy dò dẫm từng bước. Tôi giận cho cái tánh vô ý của mình quá, đi đâu cũng xăm xăm phía trước. Tôi vội quay trở lại, ôm cánh tay bố, rảo bước nhìn người qua kẻ lại. Thong dong thế này kể ra cũng sướng nếu có thì giờ!

Lúc tô bún riêu nghi ngút khói xuất hiện, tôi so đũa, tấn công tô bún không thương tiếc. Nhìn qua bố, từng gắp run run đưa lên miệng. Sợi rơi xuống tô, sợi sa vào người. Bố yếu quá rồi, tôi chợt thở dài. Ngày xưa, ôi chao, ngày xưa bố ăn như rồng cuốn. Bố xì xụp nước lèo, bố gặm xíu quách rồn rột. Soạt một lát là bát phở, bát bún hết nhẵn. Mẹ vẫn gắt lên vì bố ăn uống ồn ào trông bình dân quá. Bố bảo muốn ngon miệng thì khi ăn phải co hai chân, bưng bát và, húp, liếm môi, đánh lưỡi chóp chép cho rõ tiếng mới khoái khẩu. Nể mẹ nên phải kiểu cách thôi. Bây giờ, ôi chao, bây giờ bố ăn sao quá chậm rãi, nhai nuốt trệu trạo. Tôi buông đũa, lại thở dài...

Chỉ mới năm trước, hai anh em tôi về thăm bố, thấy người vẫn khôi tráng. Hai anh em bước vào phòng lúc bố vừa xong bữa sáng. Chúng tôi hơi thất vọng, tưởng bố sẽ chê những món quà vặt mới đem tới. Thế mà bố vẫn chén ngon lành. Cao hứng, tôi lôi cả mấy chai rượu vang con con ra mời nhưng anh tôi cản lại vì "còn sớm" (thật ra anh sợ rượu làm bố chưa trị xong ung thư, đổ thêm bệnh tim!). Tôi ỉu xìu, thấy bố cũng ỉu xìu. Biết anh có ý tốt nên tôi không cãi, lẳng lặng xếp chai qua một bên nhưng định bụng chờ anh quay lưng, tôi sẽ cùng bố cụng ly.

Tiếc thay tôi ham nghe bố kể chuyện, quên cả chai rượu vang đang chờ (sau này anh tôi thú nhận đã quẳng rượu vào thùng rác khi tôi quay lưng đi!). Bố kể miên man về từng ông bạn cùng phòng. Có ông bị bán thân bất toại, cực kỳ gàn dở khó tính. Lúc nào cũng gắt hơn mắm. Vợ con đến thăm phát điên đầu về những lời than vãn, nhiếc móc. Còn các cô nhân viên thì khổ "như chó" với ông này: "Các con có biết, ông già đó ác đến độ vừa tắm rửa xong, y tá bê lên giường nằm chưa được một giây đã nghiêng người bĩnh cho một bãi be bét rồi quay ra nằm ngửa. Bẩn từ lưng xuống đùi!" Anh em tôi khiếp hãi hét lên làm bố tôi cười sặc sụa. Bố còn khoe tiếp: "Có hôm ông ấy lảm nhảm chửi bới mấy cô dọn phòng, bố tức không cầm được, quay lại chỉ mặt quát cho một trận, rung cả cửa kính: "Chính mày mới là thằng khốn nạn, làm khổ vợ con, làm khổ nhân viên. Bây giờ còn làm khổ tai tao!" Chúng tôi lăn ra cười. Bố tôi đắc thắng khoe, Từ đó "ông nội gia trưởng" ấy tởn luôn.

Vừa lúc ấy, ông bạn cùng phòng của bố được đẩy vào. Tôi hỏi khẽ, Có phải bác này là vua Bĩnh không bố? Bố tôi cười ha hả. Không đâu con, ông ấy đi đứt rồi! Tôi ôm miệng để khỏi la hoảng. Thôi bố ơi, chết rồi thì để người ta yên. Bố tôi không nói về bác Bĩnh nữa thì quay qua nói về bác Nghịch: Bác Nghịch thích bấm chuông kêu y tá, đến lúc họ vào, bác tỏ vẻ ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra. Bố kể: "Có hôm bác rên rỉ nhờ bố bấm chuông dùm. Bố bấm xong, y tá vào. Bố chỉ qua bác ấy, bác lại chỉ qua bố kêu, Ông bấm sao lại chỉ tôi!"

Toàn những chuyện vặt vãnh vây quanh các vị bô lão của viện, bố tôi kể không biết mệt. Tôi trầm trồ khuyên bố ghi xuống. Bố cũng đồng ý đấy là những chuyện hi hữu đáng viết, nhưng người than mệt mỏi quá không tập trung tinh thần được. "Nhất là hôm nào nghe gõ mõ tụng kinh ở phòng kế cận, hôm ấy mất mẹ nó vài tuổi thọ!" Tôi bốc: "Ở đây có lẽ bố là khỏe mạnh, trẻ trung nhất. Còn lâu mới tới phiên bố!" Bố gật gù. Rõ ràng là người còn ham sống, còn nhiều sân si lắm. Tôi hy vọng bố ít nói chỉ vì xúc động khi thấy con cái tới thăm vào dịp Tết chứ chẳng phải bố mệt mỏi muốn bỏ cuộc.

Không ngờ bố từ chức Thợ Ðấu vào mùa Thu 2006, hết còn dịp xông đất và chia sẻ không khí Tết ở "nhà" với con cái nữa. Hy vọng hành lý bố nhẹ, ra đi dễ dàng. Còn tôi, từ hôm đến nhà cùng bố mừng Xuân, được nhìn thấy màu hạnh phúc bừng lên khuôn mặt bố, lòng tôi cũng thanh thản vô cùng...

Thu Thuyền
(01/26/2010)

Thursday, June 13, 2019



                                Thiên Thanh 
                                trong ngày tốt nghiệp ( 22.6.2019 )

Cháu Thiên Thanh vừa tốt nghiệp trung học năm nay, "honor graduate" trong số đâu khoảng 40 người. Trường cháu học là Gwinett school of Mathematics, Sience and Technology của tiểu bang Georgia, là "trường chuyên" theo cách nói về trường học ở Việt Nam. Nói chi tiết thêm một chút, thứ nhất là khoe cháu, hai là để những bạn bè ở Việt Nam biết thêm đôi chút về trường trung học bên này. Trường Gwinett này đứng hạng thứ sáu trong toàn quốc, và đứng nhất trong tiểu bang. Học trò ra trường năm nào cũng được các đại học như Havard, Princeton, Yale nhận về rất nhiều. Nhưng cháu Thiên Thanh lại chọn về đại học Notre Dame 
Và cháu cũng là học sinh đầu tiên của trường Gwinett chọn đại học này.
Khi con gái tôi hỏi cháu sao không chọn Havard hay Princeton? Cháu trả lời: vì học ở đó con sẽ thành một con người.
Con gái hỏi lại, chứ hồi nào giờ con không là người à?😀
Cháu nói: con sẽ là một con người tốt hơn. Trong nhà, cháu nói bằng tiếng Việt rất rành rẽ
️.
Notre Dame là một đại học Công Giáo, mẫu mực có tiếng, cháu học ở đó mình cũng an tâm.
Chi phí cho một năm học khoảng 75 ngàn dollars, nhờ cháu có học bổng nên gia đình cũng không lo lắng nhiều cho lắm.
Trong số học sinh honor graduates có 7 người Việt, trong đó có cháu Thanh, 7 người Tàu, 10 người Đại Hàn, người Ấn Độ cũng khoảng 10 người. Dân Á Châu giỏi thiệt.
Thương và mừng cho cháu tôi. Thấy nó bây giờ như một cánh chim đang bay vào một khung trời tươi đẹp. Xin Thiên Chúa giúp đỡ và ban bình an cho cháu.
( Nguyễn Khôi Việt)

Wednesday, June 5, 2019



                          To love a poet.

To love a poet
(Thanh nguyen 2019 )

I.
We are made of little things, promises we cannot keep.
the forgotten and the ignored.
 I am made of coffee and dog eared books that flap whenever you pass by.

You are made of nothing. Nothing at all, except dreams
I cannot chase.
But I see you, Galatea,
A pretty statue
overlooking the ocean.
I cannot help but fall in love,
for your smell of sea and earth,
Of blue hurricanes and fickle dust devils.

You must know 
I was raised a poet,
and hell is a place 
I often travel to.

Let me be Dante,
tired and starry- eyes,
gazing upon your gate.

II.
I drink coffee that taste 
like lingering cigarettes,
a sentimental sense
of late- night talks that go nowhere 
and friends that do.
I drink coffee 
that is as black as
the shades I wear indoors 
( it matches my dark mood that way)
I drink coffee 
because it’s easier 
to redefine love over caffeine than ethanol.

But coffee aside ( I know I’m an addict)
regard me as a simple fool:
a food without much to give 
and a heart that does not want 
much more than necessity,
perhaps only the words of a poet
too memorable to be penned,
too forgettable to think otherwise.

And you.
As far as necessities go,
coffee, poetry, and you.

III.
Hush now, will you ?
Take my silence and dance
to the ruffling of the nightingale’s feathers,
the  beating of our hearts ( oh how they bleed the rhythm of a poet’s words)
 under the flickering of a streetlamp
is where I’ ll kiss you,
so you’ll always remember 
that in the thumping cadence of a still, still night,
I love you 
with the strength 
of a thousand moons.

( Thanh Nguyên )
 
                   There's a battlescar on this heart
                    and it hurt to remember


Monday, May 20, 2019

                                   Hoàng hôn tím ( NT)

( Viết từ Phạm Ngọc )

Từ buổi ấy ta về theo trăng vỡ
đêm hẹn thề hôn phối với cô đơn
từ buổi ấy ta loài chim làm tổ
trên đỉnh trời ngồi đợi những hoàng hôn…

Ở nơi đây là những chia sẻ cùng người trên từng ngày tháng chia / trôi – những nơi chốn đã đi qua – những kỷ niệm sẽ nhớ về – mãi mãi trong tiềm thức là những yêu dấu khôn cùng – mãi mãi cho mai sau là những giấc mơ chưa bao giờ hiện hữu – vẫn nắng vẫn mưa – vẫn những bình minh rộn lời chim hót – vẫn những con đường xanh lá xa xưa – vẫn những hoàng hôn ngợp ngời ánh lửa – khoảng không gian im lặng của đợi chờ – và những mùa thơ…

Khi hai đứa không còn của riêng nhau
xin đừng ném những cái nhìn thù nghịch
dẫu thế nào đi nữa cũng vẫn còn vết tích
của cuộc tình dù chẳng có mai sau
của chuyện mình đầy nước mắt thương đau
xin tất cả bình yên cùng nỗi nhớ
Em sẽ đi trong tháng ngày trắc trở
gió dịu dàng mà có trốn được đâu
mưa dịu dàng mà ướt cả đời nhau
và chiếc lá rơi trong chiều ngơ ngác
không còn nhau cũng chẳng còn tiếng hát
để chiều nay em đứng gọi tên mình
bài romance lạc nhịp bỗng lặng thinh
sao tất cả bỗng trở thành dĩ vãng
Em đứng giữa giòng sông buồn vô hạn
đâu cội nguồn xa tít tắp biển khơi
đâu nụ cười trong giây phút đánh rơi
em được biết mình không còn thơ dại
đã hiến dâng anh một thời con gái
để bây giờ còn lại khói sương thôi
dấu yêu xưa xa lắm đã xa rồi
không còn là của riêng nhau được nữa
Trả cho anh phía mặt trời thắp lửa
giữ cho mình khoảng tím của hoàng hôn
giữ trong tim trọn vẹn một nỗi buồn
để được biết đã có lần hạnh phúc
và mũi tên nhói đau trong lồng ngực
để nhớ về một thưở của riêng nhau …

Phạm Ngọc( Trích trong tập thơ Hoa Tím Ngày Xưa )

Thursday, May 16, 2019


                                  Thiên Thanh của Ngoại..


Thanh yêu thương

Vậy là cháu sắp ra trường. Tháng năm sắp tới với nhiều niềm vui cả nỗi buồn khi cháu sắp bước vào sân trường Đại học . Thanh có lo lắng không ? Ngoại thì nửa lo nửa mừng. Mừng vì Thanh đã vượt qua mười hai năm đèn sách với kết quả học tập cao nhất ( a, ngoại hãnh diện lắm) Lo vì Thanh sẽ đi một mình trên con đường trước mặt.
Ở môi trường nội trú, Thanh sẽ làm gì khi đến bữa ăn không bàn tay mẹ Quyên nấu? Chọn áo quần gì khi chuẩn bị đến lớp? Quần áo nhàu nhĩ Thanh có biết ủi cho thẳng thớm không ? Không, chắc là không rồi .. 
Vậy mà Thanh muốn đi học xa cơ đấy, Thanh thích cái trường nào đó tít tận miền Bắc quanh năm lạnh lẽo. Thanh chọn trường đó, không phải vì nó nổi tiếng mà vì .. phong cảnh quá đẹp.
( Trời đất)
Mười tám năm nuôi Thanh khôn lớn, ở nhà việc lớn việc nhỏ, mọi thứ đều bàn tay mẹ Quyên sắp xếp, thu vén. Thanh đi học về đã có cơm nước sẵn sàng. Suốt ngày, Thanh chỉ biết đến những bài homework và những notes nhạc, những bài thơ...( Thanh viết truyện, làm thơ vất lung tung và mẹ Quyên đi nhặt từng tờ, vuốt ra thẳng thớm. Mẹ Quyên nói, để dành mai mốt khi đọc lại, Thanh sẽ nhớ)
Chắc rồi Thanh sẽ nhớ lắm, những ngày mẹ Quyên đưa đón Thanh đi học dù mưa hay nắng . Những ngày Thanh về muộn, mẹ Quyên đợi Thanh mòn mỏi trong xe.. Dù vậy, bao giờ mẹ Quyên cũng vui vẻ khi Thanh nhào vào cửa xe. Bao giờ cũng là ..
“ Con làm bài được không. Con đói chưa ?”
Thanh sẽ nhớ lắm, những sáng ba Quang dậy sớm, tất bật chở Thanh đến trường cho kịp giờ học và giờ đi làm. Ăn vội miếng bánh trên xe, uống ngụm cà phê cho tỉnh táo .. Trường xa nhà, lại kẹt xe khủng khiếp..
Thì đành phải chìu Thanh thôi, vì Thanh đặc biệt thích học ở đây..

Rất nhiều thứ để Thanh nhớ khi nghĩ về gia đình, những ngày tháng hồn nhiên vô tư lự. Nó là tấm thảm đẹp đẽ đầy mầu sắc mà ba Quang, mẹ Quyên đã cần mẫn, cặm cụi dệt mỗi ngày để gửi gắm vào các con những ước mơ suốt một đời người. 
Những sợi hồng thắm của hạnh phúc, sợi xanh tươi của niềm hy vọng.

Thanh yêu thương của ngoại.
Hãy dệt tiếp những mầu sắc lóng lánh trên tấm thảm nhung kia bằng trái tim trẻ trung, bằng ánh mắt ngây thơ và đôi chân mạnh mẽ .
Mạnh mẽ, nhé Thanh.
Ngoại tin vào điều đó, bởi đơn giản. Thanh của ngoại mà, có chướng ngại nào Thanh không thể vượt qua ?
Gửi đến Thanh, trọn vẹn tình yêu của ông bà ngoại.



Bài dịch của Hải .

To my dearest granddaughter 

    It is almost that time for graduation; The approaching month will bring extreme joy and melancholy when you are on campus ground. Are you anxious about what the future might hold? I am worried and also very proud. Proud of the fact that you have accomplished only what so many can only dream of, and worried because you will be alone on your new adventure.
    On your new journey, you will not have the delicious food from your mom. You will have to be independent and choose your clothing, food, and friends. Do you know how to iron your clothes? 
    For the past 18 years, you are used to having your family by your side, with food when you get home so that you can concentrate on your studies and your hobbies ( Your story telling, poetry, which you tossed them everywhere and your mom had to picked it up and store them neatly, perhaps one day you will get a chance to reread it and go back to the time when you were a kid). 
    Through rain and snow, your mom had always waited patiently to pick you up and always were so happy to see you jumped in the car, and she always asked” How was school, are you hungry?:”
    How about the time when your dad would be up early, so that he can take you to school and make it to work, with food and coffee in the car, but he is always so happy and glad, even though it takes him 2 hours to get to work.
    Ultimately, it is your decision to go away for college, and this is a great school, hopefully one that can accommodate your brilliant intelligence. Hopefully, you will still remember the innocence days and joyous night, and it will serve as a tapestry and a foundation that your mom and dad has weaved for your future, the love and support of a family, and the hope for a new generation.

    Thanh my love, go forward and heed your incessant desire for knowledge, by using your innocence eyes and steadfast legs. We believe in you, because based on what we have seen, you are unstoppable, and even the mountains will move out of your way.
Love you with all our heart.

                              Thanh with " Happy together''



Friday, May 3, 2019


                        Tinh Long( ảnh từ internet)



Phi vụ cuối cùng của một Tinh Long(*)
( Yên Sơn)


Tay run run cầm tờ phóng ảnh Phi Vụ Lệnh (PVL) cuối cùng đã mờ nhạt – dù sau này đã được ép nhựa – sau bao nhiêu năm tháng “săm soi” ở mỗi độ tháng tư về hay mỗi lần nhớ bạn bè xưa, nhớ không gian cũ. Mỗi lần cầm tờ PVL trên tay là y như thấy lại tất cả những dấu yêu trong dĩ vãng bừng bừng sống lại, có những phút huy hoàng, có vạn điều cay đắng!
Đã 40 năm qua rồi nhưng sự xúc động vẫn còn nguyên vẹn khi hình dung từng khuôn mặt, từng giọng nói, tiếng cười của 9 Phi hành đoàn (PHD), gồm 6 Phi hành đoàn chính thức và 3 Phi hành đoàn túc trực với hơn 80 nhân sự có tên trong tờ Phi Vụ Lệnh cuối cùng của đêm 28 rạng 29/4/1975. Nhưng đặc biệt nhất là Phi hành đoàn Tinh Long 07 của Trung úy Trang Văn Thành. Phi hành đoàn rất anh dũng, đã đánh một trận oanh liệt cuối cùng, rửa hận thay anh em và đã hy sinh cho quê hương dấu yêu trong giờ thứ 25.
* * *
Chiều 28/4 anh em có mặt tại phi đoàn rất sớm và rất đông sau khi phản tặc Nguyễn Thành Trung dội bom phi trường. Và trong phi vụ lệnh đêm nay, tôi có tên bay với Trung úy Trần Văn Hiền, Tinh Long 2, sau phi vụ đầu tiên của Trung úy Trang Văn Thành.
7g30 cất cánh. Trời chưa tối hẳn. Tuy nhiên, khi chuẩn bị vào Vùng trách nhiệm lúc 8 giờ, trời đã nhá nhem tối. Hiền ra lệnh tắt tất cả đèn đóm trên tàu, chia nhau canh phòng không và SA-7.
Chiến trường hôm nay không xa thành phố bao nhiêu. Được Trung úy Thành bàn giao chiến trường cho biết là phòng không và SA-7 của địch quân rất dữ dội. Thế là 10 đôi mắt mở banh để canh chừng từng vuông đất. Chúng tôi lặng lẽ nhập vùng trong đêm tối; thế nhưng có lẽ chúng đã nghe tiếng phi cơ nên vui vẻ dàn chào một trời đạn pháo khi chúng tôi chưa kịp bắn một viên đạn nào. Có lẽ trong chiến trận ai cũng biết là mình chưa khai hỏa mà địch đã phủ đầu thì mức độ sợ hãi đến tê điếng cả người. Đoàn viên ai cũng muốn TPC khai hỏa để lấy tinh thần, nhưng vì đạn dược của chúng ta vô cùng quý hiếm nên đành phải chờ cơ hội. Chúng tôi phải liên tục lạng lách vả mồ hôi và bắt buộc phải tăng giảm cao độ liên tiếp. Địch quân trong thế thượng phong, đạn pháo liên tục bắn lên như một trời sao, đặc kín cả không phận. Ở dưới đất, hàng hàng lớp lớp xe vận tải của chúng bật đèn sáng choang, nối đuôi nhau tiến vào thủ đô như chỗ không người! Tôi chợt ao ước giá chúng tôi được trang bị bằng bom! Chúng tôi vô cùng phẫn uất nhưng vẫn không làm gì được vì chúng tôi không thể bắn liều, bắn ẩu ở cao độ không hiệu nghiệm. Mỗi lần cố xuống thấp nhập trận là phòng không của chúng lại đặc trời, lại phải lạng lách vả mồ hôi, phải bắn trái sáng chống hỏa tiễn tầm nhiệt, phải tang cao độ an toàn. Trong suốt hai tiếng đồng hồ trên không phận, chúng tôi hoàn toàn trong tư thế tự vệ và thụ động, không có lấy một cơ hội nhỏ để bắn trả thù! Tôi bỗng nghĩ nếu gặp Trung úy Thành Cam-bu-chia chắc đã một mất một còn với lũ giặc Cộng này rồi. Tôi đã bay với Thành ở nhiều chiến trường nổi tiếng như Đại Lộc, Thường Đức, Đức Dục ở Quảng Nam; Vùng núi đồi Tây Nguyên khi biệt phái Phù Cát. Sự gan dạ của Thành có lẽ nhờ tin vào bùa chú, hoặc nằm trên sợi dây chuyền có nanh heo rừng lúc nào cũng đeo lủng lẳng trên cổ.
Phải nói lần đầu tiên trong đời đánh trận tôi cảm thấy ê chề, lo âu và bất lực. Không khác gì một võ sĩ thượng đài mà đã bị người ta trói buộc tay chân. Không ai nói với ai điều gì nhưng trong ánh mắt của mỗi người là một trời thất vọng và lo âu. Nguy cơ địch quân đánh chiếm Saigon chỉ có thể đếm từng giờ!
Về tới phi đoàn, tôi vội vã chạy về cư xá Sĩ Quan độc thân ở gần cổng Phi Long, vì có hai chú em học trò trọ học ngoài phố được tôi đưa vào trong căn cứ lúc trưa. Mấy ngày qua, an ninh, quân cảnh được lệnh không cho bất cứ dân sự nào vào trong căn cứ nếu không phải vợ con của quân nhân trong trại gia binh hoặc phải có giấy phép đặc biệt. Sở dĩ hai chú nhỏ vào được là nhờ tôi có giao tình đặc biệt với anh em an ninh, phòng thủ trong căn cứ. Giao tình đặc biệt đó là vì tôi ở trong đội tuyển volley Không đoàn và là huấn luyện viên võ thuật Không Quân nên quen mặt với anh em mà có được biệt lệ.
Gần 11g đêm tôi về tới phòng trọ. Chưa kịp chợp mắt thì phi trường bị pháo kích nặng nề. Hai chú học trò tranh nhau chui trốn vào gầm giường! Tôi cũng chết điếng khi nghe tiếng đạn rít xé tai và rớt xuống bên ngoài căn cư xá của mình… nhưng chờ hoài không nghe tiếng nổ! Tản sáng ra xem mới biết là tử thần từ chối khuya qua, chiếc đạn hỏa tiễn 122 ly cắm sâu vào lòng đất, đưa một phần đuôi lên trời!
Chưa kịp hoàn hồn thì nghe cả khu cư xá la ơi ới chỉ trỏ nhau nhìn lên bầu trời. Một Tinh Long đang bị bắn rơi! Biết chắc là bạn mình nhưng không biết là ai. Tôi bàng hoàng, xúc động làm tim đau nhói như muốn nghẹt thở. Tôi lên xe tính chạy vào phi đoàn để xem bạn nào nhưng vừa quẹo ra cổng cư xá thấy súng đạn vất bừa bãi bên trường huấn luyện tân binh phía đối diện… Tôi chợt nghĩ là anh em chúng tôi cần súng đạn để tử chiến nếu Việt cộng tràn vào căn cứ. Tôi dừng xe, gom một mớ súng đạn đem về phòng giao cho hai chú nhỏ. Hai chú học trò khoái chí cầm từng cái súng lên xem. Tôi chỉ vẽ sơ sơ cách sử dụng và dặn không được bắn ai nếu không phải là VC, rồi lên xe vọt đi.
Khi chạy gần tới khu gia binh, tôi lại chợt nghĩ anh em cần thực phẩm cho những ngày tới. Tôi chạy thẳng lên tiệm tạp hóa của Trung sĩ Ngọn ở khu gia binh – người vừa bay với tôi đêm qua. Đập cửa mua được mấy bao gạo và mấy chai nước mắm. Tiệm của Ngọn không có bán gì khác. Tôi nghĩ thế cũng tạm đủ và chạyđem về cư xá xong mới vào phi đoàn.
Trong lúc này, phi trường vẫn đang bị pháo kích và người người đang chạy xuôi chạy ngược. Tôi bất kể, cứ phóng xe trên đường. Khi đi ngang qua khu dinh trại nữ quân nhân KQ, thấy người ta đang tản thương vì cư xá vừa bị trúng đạn pháo kích, gây thiệt hại nặng nề. Tôi quay tìm đường khác. Dường như đầu óc tôi lúc này không suy nghĩ được gì ngoài mấy chữ “mình phải vào phi đoàn”. Tôi không có chủ đích nào ngoài việc muốn biết bạn mình vừa tử nạn gồm những ai.
Không còn nhớ lúc ấy là mấy giờ! Thấy phi đoàn ngổn ngang, vắng vẻ và có nhiều dấu hiệu bất bình thường. Vài người bạn rất ngạc nhiên hỏi tôi “còn chưa chạy nữa sao, người ta kéo nhau chạy đi hết rồi?” Tôi cố gắng tìm gặp một vài anh em còn lãng vãng, được cho biết là chiếc Tinh Long bị bắn rơi là của Trang Văn Thành và Tào Thuận. Tôi nghĩ anh bạn nói lộn tên TPC, vì Thành đã bay Tinh Long 01 rồi. Và nhìn vào PVL thấy là của ông Phi đoàn trưởng Hoàng Nuôi. Người bạn xác định là khi được điều động lúc 5:30 sáng, ông Nuôi không đi mà kêu gọi người khác bay thế. Trung úy Thành còn ngủ lại nên tình nguyện đi, kéo theo Trung úy Tào Thuận là người trực bay chuyến kế thay cho Thiếu úy Hưởng vắng mặt. Dù tình trạng chiến trường rất tồi tệ nhưng không ai nghĩ ra Tinh Long phải xung trận sau 6 giờ sáng. Đây là chuyện bất thường. Vì thế nhân viên các PHD túc trực thường vọt sớm, nhất là trong tình thế hiện tại. Do đó, ngoài hai phi công nói trên, không ai biết chắc nhân viên nào và có bao nhiêu người đi trên phi vụ đó cho tới hơn ba chục năm sau, khi chúng tôi lo việc bốc mộ Tinh Long 07, mới tìm được Thượng sĩ Nguyễn Văn Chín, người duy nhất nhảy dù, dù không kịp bung trọn vẹn nhưng còn sống sót
Tôi cấp tốc quay xe về cư xá, vơ vội 2 khẩu M16 và mấy dây đạn, nai nịt súng dao như thường ngày đi bay, đèo hai chú em lên chiếc Lambretta chạy ra các bãi đậu để tìm phi cơ khả dụng. Lúc này VC vẫn pháo kích lai rai vào phi trường. Dường như tôi không có thời gian để sợ nên cứ chạy vòng các bãi đậu của AC119K. May mắn, tôi gặp được một chú nhân viên phi đạo AC119K, biết tôi tìm phi cơ bay đi nên nói với tôi, “Trung úy chạy theo em, vì em biết ở đâu còn được phi cơ khả dụng, nhưng Trung úy cho em theo với nghe”. Tôi mừng ơi là mừng, buồn ngủ gặp ngay chiếu manh, 3 anh em chạy xe theo sau hắn.
Quang cảnh phi trường lúc này hoang vắng nhiều; phần thì mọi người đang tránh pháo kích, phần đã ra đi còn hầu hết đổ dồn ra các cổng để xuất trại. Theo chú phi đạo hết chỗ này tới chỗ khác; những chiếc khả dụng đã không còn trong ụ. Chú lại gọi tôi theo để tìm những chiếc hư hại sơ sơ có thể bay được. Dường như tôi không suy nghĩ được gì hơn là chạy theo chú. Chú chỉ chiếc nào thì tôi nhảy lên phòng lái xem xét phi cụ và thử quay máy. Có chiếc máy nổ nhưng không có xăng; chiếc có xăng nhưng các phi kế đều hỏng… Sau cùng, tới sát trạm hàng không quân sự, chúng tôi tìm được một chiếc như ý nguyện. Việc đầu tiên là xem tổng thể, leo lên cánh coi mực xăng hai bên, vào phòng lái quay máy, thử hai ống phản lực… tất cả đều hoạt động “có vẻ” bình thường, chỉ có vài phi kế không quan trọng có kim chỉ vạch đỏ… Có lẽ không còn chọn lựa nào tốt hơn trong khi thời gian đã gần trưa, tôi quyết định ra đi với chiếc phi cơ này.
Đang gấp rút xem xét lần cuối cùng và không biết chú phi đạo đi đâu mất tiêu trong lúc hai chú em chở nhau trên xe chạy quanh bãi đậu. Tôi ra dấu bảo hai chú lên tàu. Bỗng nhiên thấy chú phi đạo trở lại với chiếc xe hơi màu trắng, hai chỗ ngồi, mui trần. Chú nói “thôi ông thầy tự lo lấy nghen, em có được chiếc xe này chắc người ta bỏ lại, em cần chạy về nhà đưa Ba Mẹ em vào trong này. Chúc ông thầy may mắn.” Tôi chưa kịp phản ứng thì chú đã chạy đi mất. Cùng lúc đó hai chú em cũng nói “thôi anh Tư chạy một mình đi, tụi em cũng về tìm Ba Mẹ”. Nói xong hai anh em chở nhau chạy biến về phía cổng Huỳnh Hữu Bạc. Tôi hoảng hốt tắt máy, nhảy xuống đất vừa chạy theo vừa kêu gọi hai chú em trở lại nhưng không kịp. Hai chú đã mất hút trong dòng người ùn ùn kéo ra cổng. Tôi đứng chôn chân bên hông trạm hàng không…
Đang lúc ngẩn ngơ, tiến thối lưỡng nan, tôi chợt thấy một toán người vừa ở các bunker gần bên xuất hiện và vội vàng lên chiếc tàu của tôi, họ quay máy vọt đi. Tôi la lớn, chạy theo đứng chặn trước mũi máy bay đưa hai tay cản lại, ra dấu tàu này của tôi… nhưng con tàu cứ sấn tới, bất kể sự an nguy của tôi. Tôi nhảy tránh sang một bên nhìn theo con tàu vội vã băng về hướng phi đạo. Thật ra tôi đã nhận diện được cả hai pilot cướp tàu của tôi, họ là đoàn viên Tinh Long chung đơn vị chứ đâu phải ai xa lạ. Tuy vậy, sau này liên lạc lại nhau ở Mỹ, tôi có hỏi họ tại sao tàn nhẫn lấy tàu của tôi đi mà còn không cho tôi đi theo… nhưng dĩ nhiên cả hai đều chối là không phải họ! Tôi nói với họ “nói là nói chơi cho biết chứ tôi hoàn toàn thông cảm hoàn cảnh lúc đó; hơn nữa tôi cũng còn sống nhăn ở đây”. Tuy nhiên, rất có thể họ mang mặc cảm nặng nề nên bao nhiêu lần chúng tôi tổ chức Tinh Long Hội Ngộ ở Texas và California vẫn chưa thấy hai người này về tham dự.
Tôi đứng ngó đoàn người chạy ra cổng một lát. Tự nói với mình là bằng mọi cách phải rời khỏi nơi này, rời khỏi Saigon. Kinh nghiệm Cộng sản mà Ba Mẹ tôi đã nói cho lũ anh em chúng tôi từ nhỏ “Cộng Sản là những con người không tim óc; là hiện thân của lọc lừa, dối trá, trả thù và giết chóc”. Phi trường đã vắng người, pháo kích cũng đã ngưng nhưng tôi không còn phương tiện để đi đâu… Đang bước ngập ngừng vô định thì thấy hai chú em xuất hiện “Anh Tư, họ không cho ai ra hết. Quân cảnh bắn dưới chân làm mọi người chạy ùa trở lại!” Tôi mừng muốn bật khóc. Ba Mẹ và các anh chị em của tôi không biết bây giờ ở đâu, ra sao. Tôi đã không thể về thăm gia đình gần hai năm qua và hơn hai tháng nay không thể liên lạc được. Đại gia đình chỉ còn lại 3 anh em ở đây, nhất định phải sống chết có nhau. Tôi cầm tay lái tính chở hai chú em chạy quanh các bãi đậu phi cơ khác cầu may để xem có chiếc nào sắp cất cánh hay không.
Vừa chuẩn bị chạy đi thì nghe tiếng gọi to sau lưng: “Th. ơi chạy theo anh, anh cần co-pilot”. Vừa lúc một chiếc pick-up màu xanh của KQ vượt qua mặt do Th/t Phan Vũ Điện cầm tay lái và chở trên thùng đằng sau một số người gồm có cơ phi và áp tải. Tôi mừng như bắt được vàng, chạy vụt theo tuốt bên bãi đậu phía đông bắc phi trường gần trạm hàng không dân sự.
Tôi không còn lòng dạ nào để nhìn cảnh hoang tàn của phi trường trong lúc này. Chúng tôi phóng xe như điên đến bên chiếc C.130. Tôi dẫn hai chú em vọt lên cửa pilot, thu xếp cho hai chú ngồi yên một chỗ. Tôi lên phòng lái ngồi vào ghế hoa tiêu phụ, lướt qua cuốn checklist trong khi anh Điện quay máy và de ra khỏi ụ. Anh áp tải Hoàng nói là người ta nhảy lên tàu nhiều quá. Anh Điện ra lệnh vừa chạy vừa đóng cửa đuôi vì tình trạng phi cơ không hoàn hảo sợ không kham nổi trọng lượng quá tải. Anh tống ga chạy như giặc đuổi sau lưng. Chúng tôi ra phi đạo ngay ở taxiway đầu tiên, khoảng nửa sân chứ không có giờ tới cuối phi đạo như bình thường. Anh Điện tăng ga tối đa, nhả thắng, chiếc phi cơ lao về phía trước như con voi điên bất kham. Tôi phụ anh Điện giữ vững cần lái. Trên mặt phi đạo có một vài nơi có đồ đạc vung vãi. Vừa chạy vừa tránh… gần tới cuối phi đạo mà vẫn chưa lấy đủ tốc độ bình thường để cất cánh… Trong lúc tôi và một số sĩ quan có mặt trong buồng lái xanh mặt thì anh Điện nhẹ nhàng nâng con tàu lên khỏi mặt đất hướng về hướng trường đua Phú Thọ. Thân tàu rung rất mạnh, chứng tỏ chưa đủ tốc độ an toàn. Anh Điện cố gắng bay lài lài lên chứ không nâng cao độ nhanh như bình thường được. Tôi bàng hoàng nghĩ thầm “chắc chết phen này vì rớt máy bay, đi không ai tìm xác rơi rồi đây!” Đã vậy, chúng tôi bắt buộc phải quẹo trái bay về hướng Vũng Tàu ngay lập tức, nếu không sẽ bị phòng không của Việt Cộng. Anh Điện không dám cua gắt vì sợ mất lực nâng. Cũng may, C.130 có 4 động cơ bán phản lực nên rất mạnh. Tàu rung một lúc thì trở lại bình thường, giúp chúng tôi bốc mình lên cao độ an toàn bay thẳng ra Vũng Tàu.
Lúc này tôi khá bình tĩnh, thấy thần chết đã bận đi nơi khác. Tôi nhìn đồng hồ tay thấy hơn 1 giờ chiều. Mở tần số không lưu, nghe loạn xạ những lời bàn tán, lời hướng dẫn cộng thêm ý kiến, ý cò của mấy ông sĩ quan cao cấp tháp tùng đang trong phòng lái… người muốn xuống Côn Sơn cùng với vợ con được di chuyển từ sang sớm, kẻ muốn qua Bang-Kok tỵ nạn; người muốn đi Utapao Thái Lan, kẻ muốn đáp xuống biển (ditching) để Hạm Đội 7 cứu… làm cho anh Điện điên đầu nổi sung hét lớn. Cuối cùng mọi người đi đến một thỏa thuận chung là đáp Utapao theo hướng dẫn của bạn bè trên tần số đang bay về hướng đó.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ từ lúc cất cánh, đi Vũng Tàu vòng qua Utapao, chúng tôi đáp xuống phi trường này khoảng hơn 3 giờ chiều ngày 29/4/1975. Mọi người thở phào nhẹ nhõm đã được tai qua nạn khỏi khi con tàu chạm bánh xuống phi đạo an toàn và chạy bang về trạm tiếp liên. Máy bay vừa tắt máy thì đã có một toán lính Mỹ bước lên tàu, lục xét và tịch thu tất cả vũ khí có trên tàu trước khi được hướng dẫn xuống máy bay. Hơn 100 nhân mạng nối đuôi nhau theo một binh sĩ Mỹ hướng dẫn nhập đoàn tỵ nạn. Chúng tôi vừa rời máy bay thì lại thấy một toán quân nhân khác bắt thang cao sơn bỏ tất cả cờ VN và bảng số tàu. Tôi ngậm ngùi nhìn hành động đó mà khóc thầm “thế là hết, miền Nam đã bị xóa sổ”!
Vâng, Miền Nam đã bị xóa sổ sau đó không đầy nửa ngày! Khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng qua làn sóng điện nghe được ở trại Utapao làm cho nhiều người bật khóc gồm có tôi. Tôi nghĩ nhiều đến Ba Mẹ và các anh em không biết bây giờ lưu lạc nơi đâu. Nghĩ tới người vợ hứa hôn chỉ ở cách tôi không hơn 6 cây số mà không thể mang theo được. Thế là hết, vĩnh biệt Saigon, vĩnh biệt người thân, vĩnh biệt đời chim, cánh gió! Tôi lặng lẽ khóc như chưa từng được khóc! Khóc cho tôi bơ vơ không biết mai này đời sẽ về đâu; khóc cho bạn bè vừa nằm xuống sáng qua trong phi vụ cuối cùng bảo vệ thủ đô!

Yên Sơn
( *)Trích trong tập truyên Mưa Nắng Bên Đời, xuất bản năm 2018

Ghi chú thêm:
Tinh Long là biệt hiệu của Phi đoàn 821. Là một trong hai phi đoàn vận tải tác chiến thuộc Không đoàn 53 Chiến Thuật, trực thuộc Sư đoàn 5 Không Quân VNCH, đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất, cách trung tâm thủ đô Saigon 6 cây số về hướng tây bắc.
Phi đoàn Tinh Long có khoảng 300 nhân viên phi hành; là phi đoàn có quân số đông nhất trong ngành bay. Ngoài căn cứ chính ở Tân Sơn Nhất còn có hai biệt đội luân phiên yểm trợ cho Vùng I đặt tại phi trường Đà Nẵng và Vùng II ở phi trường Phù Cát.
Sau hiệp định Paris 1972, trong kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, Không Quân Mỹ đã trao cho KQVNCH khoảng 16 chiếc AC119K còn lại, vận tải vũ trang tân tiến nhất mà họ đã mang vào VN từ cuối năm 1969 và đầu năm 1970 để tham dự các trận chiến quy mô nhằm chống biển người, xe tăng và những đoàn xe tiếp liệu của CSBV dọc đường mòn Trường Sơn. Trong số 26 chiếc mang vào chiến trường, thực ra chỉ có 18 chiếc khả dụng.
Được chế tạo đặc biệt cho chiến trường Việt Nam bởi hãng Fairchild-Hiller, hoàn tất vào cuối năm 1969. Chiếc AC119K có chiều dài 26.3 mét, chiều cao 8.1 mét và độ sãi của cánh là 33.3 mét. Hình dáng như một chiếc hộp bay; KQ Mỹ đặt cho biệt danh là Flying boxcar và KQVN gọi đùa là “quan tài bay”. Có 2 chong chóng với công suất mỗi chiếc là 3500 mã lực và 2 ống phản lực J-85 cực mạnh dùng để mang khối sắt khổng lồ (18,000 kg empty hoặc 29,000 kg full load) bốc mình lên trên không gian
AC119K còn có tên Stinger nữa; có lẽ người ta muốn nói tới hỏa lực và sự hiệu nghiệm của nó đối với chiến trường VN. AC119K được trang bị 4 cây đại liên minigun 6 nòng, với 31, 000 viên đạn mỗi cây cộng thêm 2 cây đại bác 20 ly 6 nòng, M61AI; mỗi cây với 4500 viên đạn nổ lại khi va chạm. Ngoài ra, AC119K cũng được trang bị một viễn vọng kính (NOS/NOD – được trông coi bởi một sĩ quan chuyên môn) có sức khuếch đại hai triệu lần ánh sáng trăng sao để nhận diện mục tiêu và một đài radar hồng ngoại tuyến (FLIR/IR – được trông coi bởi một sĩ quan chuyên môn khác) để dò tìm và theo dõi mục tiêu trong đêm tối; một hệ thống phóng trái sáng có độ mạnh 20 ký lô Watt, tương đương 1 triệu rưỡi sức ánh sáng đèn cầy có thể soi sáng tỏ một sân vận động to lớn trong đêm đen. Tuy nhiên, ở chiến trường VN không sử dụng loại trái sáng này cho mục đích thật sự của nó mà chỉ dùng để chặn đường hỏa tiễn tầm nhiệt, SA-7, của địch quân nhắm vào phi cơ. Cũng may, Tinh Long chỉ hành quân ban đêm nên có phần tương đối dễ để nhận diện vị trí phòng không và đường đi của SA- 7 để tránh.
Theo sách vở, AC-119K’s rất hiệu nghiệm cho cả đại liên 7.6 ly và đại bác 20 ly ở cao độ 3,500 bộ khi yểm trợ hỏa lực cho quân bạn hoặc chống biển người; 5,500 – 7,000 bộ dùng để chống chiến xa và các đoàn xe tiếp liệu.
Mỗi PHD Tinh Long có 10 nhân viên, 5 sĩ quan và 5 hạ sĩ quan gồm: 1 Hoa tiêu (Trưởng phi cơ “TPC”), 1 Hoa tiêu phó: (Co-pilot “CP”), 1 Điều hành viên (ĐHV), 1 NOS (Night Observation Sight); 1 IR (Infrared Radar-Hồng ngoại tuyến), 1 Cơ phi (Flight Engineer), 1 Áp tải (cũng là IO: Illuminator Operator), và 3 Xạ thủ phi hành (G: Gunner).
Mỗi đêm Tinh Long có 8 phi vụ gồm 6 phi vụ chính thức từ 6g chiều đến 6g sáng; và 2 phi vụ túc trực (hai phi vụ này được điều động hay không cũng còn tùy nhu cầu chiến trường). Mặc dù nhiên liệu đủ để một chiếc AC119K đủ sức bay 5 tiếng đồng hồ liền, nhưng mỗi phi vụ Tinh Long chỉ trách nhiệm phần không gian của mặt trận 2 tiếng đồng hồ, chưa kể giờ đến vùng và giờ rời vùng về đáp. Khi phi vụ kế tiếp vào Vùng nhận bàn giao trách nhiệm xong thì phi vụ trước mới được phép rời vùng.
Tinh Long bay đêm nên ban ngày hoặc là ngủ bù, hoặc là lo công chuyện bản thân, trừ phi tới phiên phải trực văn phòng hoặc có những công tác đặc biệt mới có mặt ở phi đoàn vào ban ngày. Vì thế, dù có cận kề lằn ranh sinh tử mỗi đêm, chúng tôi vẫn được gọi là “lính thành phố” khi thấy chúng tôi hay “theo em xuống phố trưa nay đang còn chất ngất cơn say
Khi tình hình chiến tranh khốc liệt, mỗi người phải bay 3 hoặc 4 đêm liên tục mới được nghỉ một đêm. Dù vậy, bổn phận của đoàn viên Tinh Long là mỗi ngày đều phải gọi điện thoại cho Sĩ Quan trực tại phi đoàn; hoặc vào tận nơi để biết mình có tên trong phi vụ lệnh hay không. Phi vụ lệnh được Bộ tham mưu Phi đoàn cắt cử mỗi ngày và có thể được thay đổi theo nhu cầu chiến trường. Phương tiện điện thoại thời gian này cũng rất hiếm hoi. Chỉ có một số ít ở ngoài phố mới sử dụng phương tiện này, còn những người sống trong căn cứ là đợi đến khoảng 4 giờ chiều mang theo mùng mền chiếu gối vào thẳng Phi đoàn. Nếu có tên bay thì ở lại, không có thì vọt về. Tất cả nhân viên có tên trong phi vụ lệnh đều phải có mặt lúc 4:30 chiều để kiểm soát mọi cơ phận trên tàu, chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay trong đêm. Theo nguyên tắc, ai có tên bay trong đêm thì phải ngủ tại phi đoàn sau khi kiểm tàu. Bỏ bay hoặc trễ chuyến sẽ lãnh nhận những hình phạt nghiêm trọng. Thế nhưng vẫn có chàng mắt trước mắt sau là biến mất cho tới lúc lên xe ra tàu.

Monday, April 29, 2019



                      Thê lương..( ảnh từ internet.)



Hôm nay tẩn mẩn ngồi đọc lại. Mới nhận ra một điều là ngày đó, trên đường đi kiếm chồng trong những ngày cận kề sụp đổ của tháng Tư, nếu chẳng may có điều gì đó xẩy ra với em tôi. Thì không biết những chuyện gì sẽ đến với hai con của tôi lúc đó gởi người quen ở Sài Gòn. Nghĩ mà rợn cả người, và cám ơn Chúa đã không để những điều ghê gớm xẩy ra, Chúng tôi vẩn còn nhiều may mắn, và được ơn trên phù hộ.
 Bao nhiêu người đã không có cái may mắn đó.
( KV)

NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN.

Ngày 24 tháng 4
Buổi sáng, trời còn tối đen đã ba lô súng đạn lên GMC đi về hướng Trảng Bàng, Tây Ninh, nửa đường thấy pháo 130 ly nổ dọc theo quốc lộ, nó bắn để thị uy chứ xóm ấp hai bên đường đâu có đơn vị bạn nào ở đó, chỉ trúng sập nhà chết dân thôi.
Tiểu đoàn đổ quân xuống Lộc giang để giải toả xã này. Nếu không được thì một đại đội của tiểu đoàn bạn nằm ngoài trại Tân Hoà cạnh bờ sông Vàm Cỏ Đông sẽ đi đứt vì mấy ngày nay bị pháo dữ lắm. Thằng em cũ của mày đấy. Chắc mày mắc nợ nó. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng nói.
Đoàn văn Tiến- Tiến râu - đại đội phó của tôi trước kia, bây giờ qua làm đại đội trưởng của tiểu đoàn khác, lòng vòng rồi cũng gặp nhau. Nó bị vây mấy ngày rồi. Nghe nó báo qua máy truyền tin. Pháo dữ lắm anh, anh không vô được chắc mấy thằng em bị thương hôm giờ chết hết quá. Quên nói nó cũng là anh em kết nghĩa với tôi. Dân Huế chính gốc, râu quai nón, uống rượu bằng tô. Ngang tàng không ai bằng.
Buổi chiều tối. Tiến quân qua cánh đồng ruộng khô bị khựng lại, liên đoàn báo xuống trên hướng tiến quân có đồn nghĩa quân bị đóng chốt ngay bên ngoài vòng rào, chỉ có hai ba chốt thôi nhưng mấy anh nghĩa quân chịu trận không ra được. Tiểu đoàn trưởng nói đào hố nằm. Đêm xuống, ông kêu bên trong đồn nằm yên không được nhúc nhích bắn chác gì hết. Ngoài này ông đích thân cầm ống dòm hồng ngoại tuyến chỉ huy trung đội thám báo bò vào đánh lựu đạn.

Ngày 25 tháng 4
Cả tiểu đoàn nằm lại bố trí chờ cho dân trong xã chạy ra, không nhiều lắm vì tụi nó kềm chế, không cho dân di tản. Nhưng vẫn phải chờ vì nếu vào sẽ đụng lớn, chỉ chết dân thôi. Lúc này pháo 130 li từ hướng Đức Huệ bên kia sông bắn qua, và từ Chà Rầy mật khu Bời Lời bắn tới. May sao từ sáng đến giờ chưa có em nào bị dính miểng. Pháo 130 li miểng nào miểng nấy bằng cái tô. Có điều họ cũng không bắn vào trong xã. Chắc tại họ đặt bộ chỉ huy trong đó, còn những đám chốt quanh làng bắn AT3 và 82 không giật ra như mưa. ĐM...chắc hồi nào giờ tụi nó không được bắn. Lính chửi đổng. Từ đầu tháng đến giờ trời không mưa, nắng đổ lửa trên đầu.
Không có đường nào đánh ngang hông. Cả tiểu đoàn tiến theo hình chân chim vào mục tiêu.Pháo nhiều quá. Dễ chừng có đến ba vị trí pháo 130 li đang thả dàn bắn TOT( time on target) vào chúng tôi. Lên được chút nào thì đào hố nằm lại chịu. Hai cây 155 của sư đoàn 25 nằm ở sân banh gần thánh thất Cao Đài bị pháo trúng nổ tan tành, pháo 105 của quận Trảng Bàng cũng bị không khá gì hơn. Bây giờ chỉ còn đánh bằng hoả lực cơ hữu và tác chiến cá nhân mà thôi.

Ngày 26 tháng 4
Đào hố cá nhân nằm hai bên con đường, pháo bắn lai rai dọc theo đường và bìa xã từ sớm đến giờ. Bây giờ thiếu tá tiểu đoàn trưởng bận rộn với dàn hoả tiễn của "ngài" để phản pháo lại vị trí của mấy cây 130 li từ bên kia Vàm Cỏ Đông bắn qua. Hoả tiễn xin bên mấy xếp của Không quân. Phóng bằng ống phóng của trực thăng đặt trên xe Dodge. Hôm đóng quân trong nhà máy đường Hiệp Hoà năm trước, ông chỉ tấm bảng đồng ghi tên vài nhân viên của nhà máy gì đó trong nhà máy. Mày nhớ chỗ này nghe. Kiếm cho tao cái cưa sắt. Làm gì thiếu tá. Ăn trộm chứ làm gì mày. Đêm đó hai anh em ngồi cưa được một miếng lớn bằng hai bàn tay. Mấy hôm sau ngài ngồi hì hục mài đục dũa cả ngày. Sau đó ông hớn hở đưa tôi xem công trình hoàn tất là một bảng chia độ cái máy nhắm tự chế cho giàn phóng hoả tiễn của ông. Bắn xa vài cây số không biết sai lệch ra sao. Chứ lúc đánh "chốt" tầm xa 4,5 trăm thước bắn không trật chút nào.
Trong khi người dân chạy tán loạn từ Tây Ninh về Sài Gòn, thì em chạy ngược dòng người, một mình một xe lên kiếm chồng. Không biết làm sao mà cũng mò ra hậu trạm.
Trung uý Trình- đại đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ chở em đến chỗ tôi đang bố trí quân. Đang pháo thế này mà chạy xe lạnh mỏ ác quá. Trình càu nhàu. Ông đặc biệt lắm thiếu tá mới để bà ấy vô chỗ này đó.
Nhảy xuống hố cá nhân ngồi nói chuyện trong lúc pháo rải rác khắp nơi, em nói: anh ơi về với em đi. Ở Sài Gòn người ta đi nhiều lắm.
Tôi chỉ cho em thấy 3 trung đội đang bố trí phía trước. Em nghĩ, anh là cái đầu mà dễ dàng bỏ đi vậy à. Em im lặng, nắm tay tôi. Em rất buồn và lo lắng, lúc nào cũng mang vẻ chịu đựng.
Chở em ra ngoài quốc lộ 1, pháo 130 li của chúng nó vẫn bắn dọc theo hai bên đường. Lạ cái là xe đò vẫn chạy. Với dân mình, chiến tranh một lúc nào đó đã làm con người chai lì và cứng cỏi ít có người dân nước nào sánh kịp. Tôi đưa em lên xe. Vì không dám để em chạy Honda một mình trên đường với quá nhiều bất trắc. Chiếc xe sau này lúc chuyển quân đi, phải gởi lại Tha La xóm đạo. Mất.

Ngày 27 tháng 4
Chiếm được mục tiêu hoàn toàn vào buổi chiều. Có một chiếc Tinh Long C119 yểm trợ rất chăm chỉ cần mẫn. Đào hố nằm nghỉ lại trong làng, bên cánh trái có tiểu đoàn 1/50 của sư đoàn 25. Cũng nhẹ bớt phần nào. Đi vòng quanh kiểm soát, thấy nhà cửa, dân chúng thật là bi thảm. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng kêu tôi đi với ông ra bìa làng, trèo lên xà ngang của một căn nhà ngói lớn trổ mái ngói trên nóc nhà, quan sát mục tiêu để vào cứu "thằng em". Chắc tiền sát viên của họ trông thấy, nên bắn gần chục trái 130 li xung quanh. Hai anh em bị sức nổ ép rớt từ trính nhà xuống. Nằm một hồi mới lóp ngóp bò dậy được. Phước đức ông bà không bị sao cả.
Nhưng nỗi lo là làm sao vào cứu "thằng em"ra được. Từ bìa làng tới căn cứ đó là một cánh đồng ruộng khô rất lớn. Chạy hết tốc lực may ra tấp vào được mấy bờ đê. Còn không thì đưa lưng ra cho pháo dập chắc chết hết.
Rồi đến sẩm tối, sau cả ngày bò lăn, lê lết trên cánh đồng, rồi cũng đánh bật hết các chốt chung quanh căn cứ Tân Hoà, "bắt tay" được với thằng em bơ phờ râu ria hốc hác. Nó bị vây và pháo gần nửa tháng chứ ít gì. Anh biết không? Đất trong trại bị pháo riết rồi tơi như cát hết. Nó nói. Mừng cho nó là không có binh sĩ nào chết. Chỉ toàn bị thương. Không có chú nào bị nặng lắm. Nhưng cũng chở đầy một xe GMC thương binh. Đại đội tôi bị thương tám binh sĩ và một chuẩn uý mới ra trường bị thương vào đầu gối. Từ hôm 24 đến giờ chỉ toàn bị thương. Không có ai chết. Hên quá.

Ngày 28 tháng 4
Trung tâm hành quân cho biết là khu ngã ba Vựa heo, tức phía sau lưng, bị Việt cộng đóng chốt. Nên tiểu đoàn 1/50 được lệnh quay trở ra đánh giải toả. Có nghĩa là chúng tôi sẽ nằm trong tình trạng khó khăn hơn với mục tiêu phía trước, địch nằm sau lưng. Rồi khi tiểu đoàn đó ra tới thì nghe trong tần số hành quân những chuyện buồn ngoài dự đoán. Tiểu đoàn trưởng nhận toàn những tin không vui, ông than thở: chúng nó đánh giặc như c...Thấy tình hình mà tao muốn tự tử quá. Pháo bắt đầu nặng hơn. Lúc lội qua một con kinh đào, đại uý Phong tiểu đoàn phó đang đứng trên bờ la hét thì bị một trái 130 li nổ bên bờ kia, hơi ép rơi cái ầm xuống kinh. Mấy thằng em vội vàng nhảy xuống lôi lên. Nghĩ lúc đó tưởng cha này thế nào cũng khó nuôi rồi. Té ra vẫn ngoác miệng nà nà nắm nắm. Ông thần này nói ngọng hết biết. Nờ thành lờ, lờ thành nờ. Nghe là thấy buồn cười. Mà cả đám lúc đó cười thiệt.Hình như tới một giới hạn nào. Chuyện sống chết đều coi thường. Cười giỡn như không. Dù rằng có lúc cả đám mặt dài ra như mặt ngựa. Nhưng chẳng phải thằng nào cũng ngon lành. Hồi sáng sớm trung uý Hiền, đại đội trưởng đại đội 2 thay đồ dân sự đào ngũ, bỏ đại đội của nó bơ vơ, trốn mất tiêu. Trong khi nguyên đại đội lính tráng còn nguyên không mất ai.
Vẫn còn chiếc Tinh Long C119 bao vùng bắn yểm trợ. Nhưng đột nhiên, lúc đó khoảng 9 giờ tối, khi chiếc này đang chăm chỉ bắn thì cả một rừng đạn phòng không bắn lên nổ như sao trên trời. Đến lúc đó chúng tôi mới biết là Bắc quân đã ở đầy quanh Đức Huệ. Chắc phải vài chục khẩu phòng không bắn lên chứ không ít. Giờ này mới ló mặt ra, chắc để dằn mặt thị uy. Khoảng 11 giờ đêm, nghe tiếng xe tăng từ phía bờ sông Vàm Cò Đông khoàng cách hơn cây số đường chim bay. Tụi nó qua sông. Xe tăng mở đèn sáng choang như ban ngày không chút e dè. Mẹ! Đất nước mình mà nó chạy rần rần coi mình như pha. Tất cả chuẩn bị M72, XM202 lựu đạn. chuẩn bị tử chiến. Nhưng cuối cùng bọn nó chuyển hướng không đi ngay mình mà đi về Đức Huệ.
Lầm lủi trong đêm. Chúng tôi quay ngược trở ra để giải cứu cho bộ tham mưu chi khu Trảng Bàng. Pháo bên địch cứ bắn 3 trái nổ thì lại bắn 1 trái sáng, suốt cả mấy tiếng đồng hồ liền, chắc để họ quan sát xem bên trong có di tản không.. Lúc trung đội thám báo đang cắt dây kẽm gai để bên trong có đường ra. Bên trong pháo binh của mình bắn trực xạ ra hai trái. May mà không có ai bị thương. Khi trước đó đã liên lạc rất chặt chẽ rồi. Chẳng hiểu bên trong họ làm cái gì.

Ngàỳ 29 tháng 4
Kéo quân vào trú trong Tha La xóm đạo. Tới giờ thì đã hoàn toàn mất liên lạc với những đơn vị chung quanh, kể cả trung tâm hành quân. Kệ, cứ kéo vào quán uống cà phê cái đã. Tha La cảnh đẹp thật, vào đó mát rượi với những khóm Trúc hai bên con đường làng. Hèn chi được Dzũng Chinh đưa vào nhạc.
Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng dự tính sẽ đặt mìn giật sập cây cầu từ ngoài bưng vào Tha La, để bộ binh và tăng của Bắc quân không vào theo ngã này được. Nhưng sau thấy chỉ thiệt hại cho xã và dân. Nên thôi.
Chợp mắt được hơn tiếng đồng hồ sau mấy ngày không ngủ. Sẽ di chuyển đêm để về Hóc Môn lập phòng tuyến cuối cùng
Điều đáng nói là khi đơn vị triệt thoái. Ngoảnh nhìn lại lần chót ráng chiều tuyệt đẹp khắp tàng cây cọng cỏ, trên những rặng Trúc vàng khắp Tha La. Phía ngoài xa kia, nơi đầu cầu bìa làng. Tôi thấy trong đồn nghĩa quân, người lính vẫn ngồi trên vọng gác. Và tôi biết chắc rằng, anh hẳn đã nghe tường tận những gì diễn biến qua đài phát thanh Sài Gòn mấy ngày nay.
Đó là hình ảnh cô đơn, lẻ loi nhất, nhưng cũng đầy ấn tượng bi hùng nhất mà tôi không bao giờ quên được. Đó chính là những gì mà người ta hay nói về. Đó là Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.

Ngày 30 tháng 4
Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4. Toàn đơn vị di chuyển về hướng Hóc Môn, ngoại ô Sài Gòn với mục đích lập một phòng tuyến tử thủ, cho dù liên lạc vô tuyến với trung tâm hành quân và các đơn vị bạn không còn nữa. Đâu khoảng xế trưa mở radio nghe Trịnh Công Sơn hát Nối vòng tay lớn mà không khỏi chửi thề. Cả tiểu đoàn đi âm thầm dọc theo bưng Thái Mỹ,sau này nghe nói có tên là nông trường Lê Minh Xuân. Anh và một số sĩ quan mà tôi không rõ đơn vị đi theo đại đội chúng tôi. Đến ba giờ chiều thì chạm địch. Anh bị đạn trúng ngực. Biết là không thể sống được trong tình trạng tuyệt vọng đó, anh nói tôi giữ cái bóp giấy tờ để đưa lại cho vợ của anh. Tôi đã nợ anh một lời hứa và xin anh tha lỗi. Vì đến cuối ngày khi tôi bị bắt thì tất cả những đồ đạc giấy tờ cá nhân, áo trận có cấp bậc của mọi người bị lột xuống chất thành đống và họ đã đốt tất cả. Tất nhiên cái bóp giấy tờ của anh cũng chung số phận. Tôi không quen anh để biết nhà hầu sau này có thể tìm kiếm. Chỉ biết anh là đại úy Lê văn Cang (hay Can ??) trưởng ban 3 Hành quân của quận Trảng Bàng. Xin lỗi chị Cang rất nhiều. Cũng không biết chị có còn sống sót qua cơn binh lửa đó hay không. Ngày ra tù tôi cũng cố gắng hỏi thăm, nhưng biết đâu mà tìm trong thời điểm đó. Thôi, nếu chị còn sống và nếu tình cờ đọc note này, thời gian qua đi tôi nghĩ những đau đớn cũng đã phai nhạt, nhưng nếu chị rơi nước mắt nhớ anh, thì cũng an ủi là trong giờ phút cuối cùng anh Cang vẫn nhớ đến chị và các con: “anh đưa giùm cho vợ tôi, nói là tôi yêu bả”.
Đại đội tôi trong thời điểm cuối này nhiều người đã bị thương rất nặng, tôi không nghĩ họ sẽ được chữa trị và sống sót. Những thương binh đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hoà còn bị đuổi ra ngoài, huống hồ những kẻ bị thương ngay tại trận địa. Xem ra tôi đã mắc nợ và có lỗi với rất nhiều người.
Còn về thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Ông đã không vào cùng chỗ với chúng tôi, mà băng trong lau sậy của bưng Thái Mỹ về nhà gần Sài Gòn. Đó là một quyết định khôn ngoan. Ông quá nhiều chiến công. Bắt được ông, điều chắc chắn đó là cái chết.

Ngày đó 2 tháng 5.
Tôi và những người bạn sĩ quan bị bắt vào giờ thứ 25, đêm 30-4 tập trung tại một trường học. Trưa ngày 1 tháng 5 được ra gặp em. Em mắt khóc tiều tuỵ, đứng cách nhau hàng rào kẽm gai. Mất nước rồi anh ơi. Câu nói lập đi lập lại của em ngập với chan hoà nước mắt được đứng với nhau 15 phút ngắn ngủi, chẳng nói được với nhau thêm điều gì. Cuối tháng chưa có lương, chỉ có đúng mười ngàn đưa cho em vì biết chắc rằng sẽ chẳng có gì để mua bằng tiền của miền Nam Việt Nam được nữa.
Sáng 2 tháng 5 . Bị dẫn đi về hướng bờ sông Vàm Cỏ Đông. Không biết sẽ đi đâu, chúng dẫn đi dọc theo thị xã, vẫn có người dân chạy theo dấm dúi cho chúng tôi chiếc áo, đôi dép, mặc cho đám vệ binh hầm hừ quát tháo. Nhớ hoài cô bé mặc chiếc áo sơ mi còn huy hiệu của trường trung học, chạy theo đưa cho tôi chiếc bánh tét và đôi dép, nước mắt đầm đìa: Anh ơi, mất nước rồi. Y hệt như câu em của tôi hay nói.
Cuối cùng sau hơn nửa tháng đi bộ, băng qua những xóm làng giáp biên giới bị Việt Cộng chiếm từ 72. Những đứa trẻ ốm gầy khẳng khiu, quần áo tả tơi nhưng vẫn chạy theo đám tù binh ném đá và chửi: Tù binh ngoan cố. Chúng tôi tới một trại tù nằm bên kia biên giới Miên, giáp Phước Long. Trại tù đầu tiên của nhiều lần chuyển trại tù sau đó. Trại Nước ngập. Cái tên nghe nhiều khủng bố đe doạ. Bước vào trại, kinh hoàng thêm khi nhìn thấy những thân hình gầy guộc,với những khuôn mặt xanh xao như ma đói, không còn chút sinh khí nằm trên chõng tre, sâu dưới tàn lá của cây rừng rậm rạp, mà tia nắng mặt trời không qua lọt. Nơi đây đã giam giữ những người tù binh trong chiến tranh.
Tôi và em. Đến khi gặp lại nhau lần đầu tiên khi được thăm của tháng 8 năm 1977. Mới biết rằng trong buổi sáng ngày tháng 5 tang thương đó. Khi đoàn tù binh bị dẫn đi trước đó khoảng nửa tiếng. Em đã chạy theo tôi băng đồng, qua suối, qua những trảng ruộng khô nắng bốc khói của ngày tháng 5 để mong được nhìn thấy chồng lần cuối. Vì biết đâu sẽ không bao giờ thấy nhau lần nữa.
Thương em như câu hát: ơn em thơ dại từ trời, thơ dại từ trời, từ trời theo ta, theo ta từ trời. Xuống biển lượm đời, lượm đời ta lên ...
Và phần thứ hai, xin các bạn đọc những cảm xúc, ý nghĩ của em tôi ngày ấy. Trong binh biến tao loạn mà chạy từ Sài Gòn xuống kiếm chồng bất kể sống chết. Và tôi chắc chắn rằng trong thời gian đó. Cũng có trăm ngàn người vợ lính cơm nắm cơm gói, không quản thân mình cam go cùng khổ để kiếm cho ra người chồng lính của mình dù rằng chỉ còn là một thân xác rữa nát.
Nguyễn Khôi Việt