Thursday, April 6, 2017



                                         Sài gòn, ngày trở lại.



THƯƠNG QUÁ SAIGON NGÀY TRỞ LẠI
  ( Nguyễn Minh Nữu )



Tôi đang ngồi ở một quán cà phê ven con lộ vắng chạy cong cong theo bờ kênh Tẻ. Đây là quán thứ ba kể từ buổi trưa nay. Tôi loanh quanh trên con lộ mới này, gọi là mới, vì tôi đoán chừng con lộ và cả khu dân cư này được xây dựng chưa tới hai mươi năm. Năm 1995, trước khi tôi rời Saigon, thì nơi đây vẫn còn là cánh đồng mênh mông cỏ lác.
Ngày mai tôi lại xa Saigon rồi. Ba mươi ngày sống với ngờm ngợp bằng hữu, sống tung tăng với bờ cây góc phố xưa, chạy xe gắn máy một mình loanh quanh hết đường này qua ngõ nọ, nơi đâu cũng bát ngát những kỷ niệm, những ân tình ngày xưa gieo xuống, sống tận cùng mỗi khoảnh khắc khi thức dậy buổi sớm mai, và kể cả khi nằm ngủ để hiểu được rõ rằng mình không đi tìm cái gì hết, mà thực sự là về để được sống với một thời quá khứ. Ngày chót trước khi rời Saigon, tôi không giữ một cuộc hẹn nào với các thân tình, mà muốn một mình tận hưởng được sống với chính mình.
Tôi sinh ra ở Hà Nội, mà lớn lên ở Saigon. Vùng đất sống dài lâu nhất là khu vực giáp ranh quận Năm với quận Nhất - khu vực chân cầu chữ Y - sau đó vượt qua dòng Kênh Tàu Hủ, và sống ven dòng Kênh Tẻ. Kênh Tàu Hủ và Kênh Tẻ là hai dòng kênh song song, chính giữa là quận Tư. Còn bây giờ, tôi ngồi đây là bên kia dòng kênh Tẻ. Cùng bắt nguồn từ sông Saigon, Kênh Tàu Hủ chạy dọc theo quận Nhất, cùng với Kênh Tẻ chảy song song vào đến ranh giới quận Năm thì gặp nhau tại ngã ba sông có cầu Chữ Y, hai con kênh nhập lại thành một chạy về phía tây, chạy tuốt xuống Long An và chảy ra sông Vàm Cỏ Đông. Kênh Tẻ lớn hơn kênh Tàu Hủ. Theo Saigon Năm Xưa của cụ Vương Hồng Sển, con kênh này được đào từ năm Kỷ Mão 1819 thời vua Gia Long, và người chỉ huy việc đào kênh là Huỳnh Công Lý, nhạc phụ của vua Minh Mệnh. Khi kênh đào xong được đặt tên là An Thông Hà. Nhân vật Huỳnh Công Lý này khá đặc biệt. Nguyên do là khi vua Gia Long gần mất, có ý muốn lập tự quân là người nối ngôi, triều đình chia thành hai phe, một phe đề nghị lập hoàng tôn là con của hoàng tử Cảnh đã mất, một bên muốn lập một vị vua lớn tuổi hơn để giữ giềng mối. Cuối cùng, Gia Long nghiêng về phía lập con lớn tuổi nối ngôi là Minh Mạng.
Khi Minh Mạng lên ngôi, phe nghiêng về lập hoàng tôn trong đó đứng đầu là Tả Quân Lê Văn Duyệt đang là Tổng Trấn Gia Định Thành. Trước nhất đây là một vị tướng dày công lao, thứ hai là đang cầm đại binh trấn đóng phương xa và thứ ba, uy tín của vị lão thần quá lớn nên không thể ra mặt trị tội, Vua bèn sai nhạc phụ mình là Huỳnh Công Lý vào làm Phó Tổng Trấn, có thể cũng là để kiềm chế bớt uy quyền của Tả Quân. Huỳnh Công Lý có công đào kinh An Thông Hà, và có thể cậy công, cậy là cha vợ của vua nên khi vắng mặt Tả Quân đã làm một số điều vi phạm. Tả quân làm phiếu trình tội lỗi của Huỳnh Công Lý dâng về kinh xin trị tội. Vua Minh Mạng muốn trì hoãn nên ra lệnh giải Huỳnh Công Lý về kinh xét xử. Tả Quân biết ý vua, nhưng cậy mình có Thượng Phương Bảo Kiếm chém trước tâu sau nên ra lệnh chém và gửi thủ cấp về kinh. Hiềm khích vua tôi càng thêm nặng nề nên sau khi Tả Quân từ trần, Án Sát Gia Định Thành là Bạch Xuân Nguyên cùng các quan ở trong kinh thành Huế đồng loạt dâng biểu kết tội. Chuyện này đã làm con nuôi của Tả Quân là Lê Văn Khôi nổi loạn, chiếm đóng thành trì chống trả với triều đình suốt ba năm từ 1833 tới 1835.
Trong nghiên cứu “Lê Văn Khôi và sự biến thành Phiên An (1833-1835), GS. Nguyễn Phan Quang cho hay, cuộc nổi dậy này, lại thêm có Xiêm La, Cao Miên hưởng ứng với Khôi, nên rất mạnh. Vua Minh Mạng bởi việc này, mà nổi trận lôi đình, trách tội Lê Văn Duyệt nuôi mầm tai họa, án hậu tử của Lê Văn Duyệt sau đó hình thành. Sau khi bình định được thành Gia Định, vua cho giết sạch thành rồi, truyền đem hết cả những thây đó vào chôn chung một huyệt tại làng Chí Hòa bây giờ, được tục kêu là “Mả Ngụy”. Ấy là việc ghi chép chung về hậu kết cuộc nổi dậy, cả thành Phiên An tất thảy đều bị giết hết."
Cũng khu vực giữa hai dòng kênh này, nhất là bờ phía nam Kênh Tẻ, vào thời gian từ năm 1945 đến 1960 là mật khu của quân Bình Xuyên. Theo Wikipedia ghi lại là:
"Sau khi quân Anh-Pháp gây hấn ở Sài Gòn (23 tháng 9 năm 1945), nhiều lực lượng quân sự chống Pháp tự phát được thành lập. Người lập bộ đội thường lấy tên của mình đặt cho lực lượng trong vùng, như bộ đội Tân Quy cũng được gọi là bộ đội Dương Văn Dương, hay gọn hơn là bộ đội Ba Dương. Bộ đội Nhà Bè mang tên bộ đội Hai Nhị, Hai Soái... Khi Dương Văn Dương, thủ lĩnh các nhóm giang hồ Nam Bộ, thống nhất các lực lượng quân sự chống Pháp ở Tân Quy, Tân Thuận, Nhà Bè, Thủ Thiêm, ông đã chọn cái tên "Bình Xuyên" để đặt cho lực lượng thống nhất này. Đây là tên chữ trên bản đồ Sài Gòn - Chợ Lớn để chỉ vùng Hố Bần, còn gọi là Xóm Cỏ, địa bàn hoạt động của lực lượng này. Cái tên "Bình Xuyên" còn hàm chỉ: "Bình" gợi chiến công đánh chiếm và bình định, còn chữ "Xuyên" để chỉ vùng chi chít sông rạch."
Bình Xuyên là một tổ chức tự phát tập họp nhiều thành phần là giang hồ tứ chiếng, có nông dân chân lấm tay bùn, có nho sinh, hào kiệt khắp vùng lục tỉnh Nam kỳ, nhiều tay kiệt liệt võ nghệ cùng mình mà cũng nhiều tay du đãng quanh vùng Saigon Chợ Lớn về đầu quân lập nghiệp. Sau năm 1955, khi bị đánh tan, số còn lại của lực lượng kéo về Rừng Sác rồi tan biến dần trong dân gian. Khu vực bên kia cầu Kinh Tẻ là nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân Pháp với Bình Xuyên, giữa quân đội Ngô Đình Diệm với Bình Xuyên và cả giữa các băng nhóm khác nhau của Bình Xuyên tranh giành quyền lợi đánh lẫn nhau. Tàn chiến cuộc, biết bao nhiêu xương cốt, vũ khí bỏ hoang phế nơi ruộng lầy, nơi đầm nước, nơi kênh rạch mà dân cư lâu lâu lại tìm thấy.
Khi về cư trú vùng Xã Tân Quý Tây, huyện Nhà Bè, tôi ngạc nhiên khi gặp chỉ trong một ấp là Ấp 4 nơi tôi ở có tới cả chục người tên Gấu: Ông Tám Gấu sửa xe, ông Hai Gấu bán tiệm tạp hóa, chàng thanh niên Gấu làm nhân viên xã... Hỏi ra mới biết trong vùng có một vị Thầy Ngãi thuốc Nam, chuyên bốc thuốc, coi bói, cúng kiếng mà dân rất nể trọng. Gia đình nào có con sợ khó nuôi đem đến thầy xin cúng thế, thầy cúng rồi cho bùa ngãi đeo trên người cùng lúc đặt tên lại, và không rõ thầy thờ gì, nhưng đa số đặt tên là Gấu. Khi tôi tới đó, ông thầy đã mất rồi, chỉ có một nhân vật lạ lùng ở ngay trong xóm tôi là Cậu Hai Gấu làm tôi nhớ hoài.
Cậu Hai Gấu khoảng ba mươi tuổi, dáng người thanh mảnh, mặt mũi sáng sủa, thường mặc nguyên bộ bà ba trắng sống trong một khu vườn cây trái rộng, có một căn nhà xây, mái ngói cổ kính khá lớn, nằm lẩn sau những tàn cây um tùm hoa trái.
 Thường mỗi buổi chiều, cậu thong thả đi dạo xóm trên xóm dưới, chỗ nào cũng được chào hỏi trân trọng. Có lần đứng trước cửa nhà, thấy cậu ta đi ngang, miệng cười vui vẻ, tôi cũng chào hỏi, cậu ta dừng lại chuyện trò hỏi thăm gốc gác, công chuyện làm ăn và rủ bữa nào rảnh ghé vô em làm vài chung rượu nghe anh Bẩy.
Một bữa rảnh rang, tôi đi sâu vô xóm, quẹo trái quẹo phải theo hàng rào cây lá, đi tiếp nữa cho tới khi nhìn trước mặt là ruộng lúa, xa lắm mới có một mái nhà. Mùa này trời mưa nên vùng nước lợ đã ngọt lại, bà con có thể gieo trồng lúa, khác với mùa nắng, nước nhiễm mặn bỏ mặc cho cỏ lác mọc bạt ngàn.
Vui chân đi cho đến khi trời chập choạng mới tìm đường quay về, tới gần xóm thì trời đã tối hẳn. Tôi đi từ phía ruộng lên nên đi vào phía sau nhà cậu Hai Gấu. Từ cuối vườn tôi thấy một cái Miễu nhỏ sáng đèn nhang, thấp thoáng có bóng người, rồi cậu Hai Gấu lên tiếng hỏi anh Bảy hả, đi đâu về phía này vậy, ghé vô chơi.
Tôi ghé vô và được mời vào cái bàn có sẵn hai băng ghế đá ngay trước miếu. Trong miếu không có bài vị hay hình thờ, mà trang trọng trên bàn thờ, là một cây mác cụt cán bầy trên giá gỗ, phía sau là một khung hình có chữ Tâm. Quen với cậu Hai Gấu rồi, tôi được mời dự một buổi cúng tổ vào giữa tháng giêng ta. Bữa đó tôi mới biết đàng sau cái dáng vẻ thanh mảnh nhẹ nhàng đó, cậu Hai Gấu là một nhân vật có võ công như phim chưởng, cậu bay nhảy từ dưới đất lên đọt cây, từ đọt cây này chuyền qua đọt cây khác hai tay liên tục đưa ra nhưng chiêu thức lạ mắt và nghe gió lộng vù vù một khi cánh tay vung lên. Cũng bữa đó, tôi được giới thiệu nhiều tay mã thượng giang hồ, tên chỉ là hai chữ Tư Bân, Mười Tổng… khuôn mặt phong trần gân guốc, tuổi tác có khi lên tới 70, râu tóc bạc phơ, ngồi nói chuyện mà luôn tỏ vẻ kính trọng một câu thưa cậu Hai, hai câu thưa cậu Hai. Tới lúc làm lễ họ đồng loạt ra trước miễu múa võ cúng tổ, đường quyền cứng cáp mạnh bạo, khi di chuyển nhẹ nhàng thanh thoát như một vũ công. Tàn cuộc lễ, họ trải hai hàng chiếu giữa sân, mọi người ngồi chung quanh, có hai cây đàn guitar phím lõm, một cây đàn nhị, một cây đàn gáo và nâng ly rượu hát hò xướng họa với nhau.
Tôi đã từng đi coi cải lương, nhưng tuồng tích là chính, chưa bao giờ thưởng thức thực sự âm điệu kỳ diệu của vọng cổ. Ở đây trong vòng tròn, người ta hát những làn điệu dân ca xưa cổ như Nam Bình, Nam Ai, Tống Biệt, Khốc Hoàng Thiên..., lời ca là nỗi niềm riêng của huynh đệ giang hồ nghe buốt dạ:
- Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng tâm sự với mây đôi lời
Nữa mai rồng ngược mây xuôi
Biết bao giờ nối những lời rồng mây...
Đêm đó cậu Hai Gấu mặc bộ bà ba trắng như bình thường, nhưng khác hơn là trên đầu quấn cái khăn nâu, cột sau ót giống như một cái nón, lưng thì cột một khúc vải cũng mầu nâu sẫm, thắt lại bên hông thả tua xuống đùi,chân mang giầy vải bó chân. Vòng tròn hơn hai mươi người nhưng không ai nói chuyện riêng, chỉ chăm chú nghe từng người hát, rượu không rót ra ly mà đựng trong bầu, họ chuyền tay nhau mỗi khi uống xong, giữa vòng tròn người là khoảng trống không có thức ăn mồi nhậu gì cả.
Chừng giữa buổi, cậu Hai Gấu đứng dậy, bước ra giữa vòng, cung tay bái về phía miếu, và vòng tròn rồi bắt đầu đi quyền.
- Nghe hung tín Nhị Ca đà thọ khổn.
Hồng Đào San em quay ngựa trở về đây.
Kìa! Giữa pháp trường cát bụi mù bay,
Quân đao phủ sắp ra tay hành quyết.
Khoan khoan, hãy để anh cạn phân đừng giết oan một
trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La ... Thành.
Một ông lão tóc bạc, tướng mạo hùng vĩ, đột ngột đứng lên hát tiếp...
- Thôi rồi một lưỡi gươm đưa đã dứt mạng anh hùng.
Đơn Nhị Ca ơi còn đâu một đời ngang dọc, quyết vẫy
vùng cho rõ mặt núi sông. Nhớ năm xưa cùng nhau thề
câu chị ngã em nâng, dẫu tử sanh quyết vẹn nghĩa kim bằng.
Thế mà hôm nay u hiển đôi phang, giữa pháp
trường chia tay vĩnh viễn.
Cả hai quay tròn bên nhau, lúc người này hát, người kia múa võ, thay đổi qua lại.
- Đơn Nhị Ca ơi, ôm thây anh máu thắm nhuộm chinh y.
Lòng tiểu đệ thêm não nùng chua xót. Nhớ đến
câu "Tiền đồng tịch, kim bằng cộng lạc, hậu lâm nguy
bất kiến đệ huynh". Đấng anh hùng đâu ngại lẽ tồn
vong, nhưng chết tức tưởi ngàn thu còn di hận.
Giữa lòng đêm và ánh lửa bập bùng trước miếu, giữa không gian vừa trang nghiêm vừa hào hùng, dường như lẫn cả vào đó chất bí ẩn thiêng liêng làm tôi mường tượng ra khung cảnh của lớp người ngày xưa đi mở đất phương nam.
Tiệc rượu kéo dài tới giữa đêm mới tàn, một số người leo lên xe gắn máy rời địa điểm, nhưng ấn tượng nhất với tôi là hình ảnh ông già râu tóc bạc phơ, phất tay đứng dậy, chào cậu Hai Gấu, và chào chung quanh bằng câu ngắn gọn, "thôi qua về nghen mấy em," và lừng lững bước ra phía sau, bên bờ rạch đã sẵn một chiếc ghe tam bản, ông bước xuống, lấy mái chèo, khua nước rồi đi xa dần giữa bóng đêm, con trăng ngày rằm soi giòng nước lãng đãng, hắt trên lưng áo một vệt như ánh bạc.
Sau này, cậu Hai Gấu mới nói cho tôi biết những lời ca đó là trong trích đoạn bài vọng cổ Tống Tửu Đơn Hùng Tín, đoạn họ hát trao đổi với nhau là lớp Tần Quỳnh khóc bạn.
(http://mp3.zing.vn/…/Tan-Quynh-Khoc-Ban-Thanh…/ZWZA9U0O.html).
Bây giờ khu xóm cũ không còn nữa; tôi đã về tìm lại, nơi đây đã được xây cất thành những tòa chung cư lớn, tân kỳ hiện đại; ruộng lúa, bờ dừa khi xưa thành những con lộ tráng nhựa rộng rãi. Tìm gặp vài người còn sót lại, họ cũng không biết cậu Hai Gấu tên họ là gì, không biết nguồn gốc miếu thờ đó là thờ ai, không biết nhóm người tụ họp cúng kiếng rồi ngâm vịnh hát hò đó thuộc hội nhóm nào và sau chót là khi khu đất giải tỏa, họ cũng chẳng biết cậu Hai Gấu lưu lạc nơi đâu, hãy còn hay đã mất.
Chỗ ngồi này với tôi hết sức thân tình và cũng thật xa lạ. Thân tình vì ngày xưa, từ căn nhà mái lá của huyện Nhà Bè, bên cạnh dòng kênh Tẻ, tôi đã biết bao lần đưa mắt ngó qua bên kia bờ kênh, chỉ là những rặng dừa nước, những chòm cây Sú, cây Đước, cây Tràm mọc mênh mông với những khoảng trống là cỏ lác... Vùng nước lợ không có vườn cây trái và cũng chẳng có chăn nuôi. Và cũng thật xa lạ vì những tòa nhà xây dựng mỹ thuật, rộng rãi với rất nhiều những con đường mới mang tên là số thứ tự 1, 2, 3... đặc biệt là con đường đẹp với hàng cây cao và công viên chạy dài theo dòng kênh Tẻ. Từ bên này bờ kênh nhìn qua, tôi vẫn còn mường tượng ra khu xóm cũ, cái hẻm nằm sâu hun hút bên những hàng dừa...
Tôi ghé quán cà phê đầu tiên lúc giữa trưa, đây là một tòa nhà 4 tầng, trên tầng thượng, tôi có thể nhìn thấy con kênh Tẻ nước xanh ngắt chẩy mênh mông, xa hơn là những tòa nhà cao tầng của quận Tư và xa hơn nữa, lẫn trong mây mờ là tòa nhà hình búp sen ở quận Nhất, tòa nhà đang được coi như một biểu tượng cho Saigon bây giờ. Sau đó, ngại ngùng vì ngồi quá lâu, tôi rời quán, đi dọc mé kênh tìm một quán khác ghé vào. Quán này nằm sát bờ kênh, tôi nghe được tiếng rì rào sóng vỗ, thấy được khuất sau hàng cây bên kia những mái nhà nhỏ, và rõ ràng còn nhìn thấy cả tuổi thơ tôi xưa hiển hiện khi nhìn đám trẻ con nô đùa dưới dòng nước mênh mông.
Về đây và bâng khuâng giữa Đi và Về.
Tôi về và yêu thích cái không gian trầm lắng nơi này. Ngay sát cạnh những sầm uất của quận Nhất, quận Năm, nhưng những hàng cây cao, con đường mới mở chạy ven theo bờ kinh, và thanh vắng ít người tạo ra một khoảng không gian đặc biệt thanh tĩnh nhẹ nhàng.
Chữ Về và chữ Đi ám ảnh rất nhiều trong các bài thơ hay của các thi sĩ nổi danh. Nhớ có lần, ngồi với Đinh Cường và Phạm Cao Hoàng ở cà phê Starbuks, tôi bất chợt nhớ đến một câu thơ hay mà không nhớ rõ của ai: "Bao nhiêu huyết lệ trong trời đất, huyết lệ nào không huyết lệ ta..." Cả ba đều ngần ngừ không biết chắc, cái hơi thơ kiêu bạc và hào hùng đó có lẽ là của Tô Thùy Yên trong bài Ta Về. Đêm đó, Đinh Cường gửi cho tôi một email, nói rằng, về nhà vẫn lẩn quẩn suy nghĩ và đã tìm ra, đó là thơ Mai Thảo trong "Ta thấy hình ta những Miếu Đền":
Ta thấy nhân gian bỗng khóc òa
Nhìn hình ta khuất bóng ta xa
Sao không, huyết lệ trong trời đất
Là phát sinh từ huyết lệ ta.
Mai Thảo là nhà văn, gần một đời viết văn. Văn của Mai Thảo là những lời trau chuốt, mượt mà. Những câu ông viết xuống trong các tùy bút đã trở thành quen thuộc bởi đó là những câu được các người dẫn chương trình nhà nghề sau này thường sử dụng, và sử dụng thuần thục. Gần cuối đời, ông xuất bản một tập thơ, và cũng là tập thơ duy nhất. Khi tìm đọc lại những trang thơ của Mai Thảo, rồi nhân đó tìm đọc thêm những trang thơ của Tô Thùy Yên bất chợt tôi nhận ra mấy điều kỳ lạ.
Tô Thùy Yên người miền Nam, Mai Thảo người gốc Bắc. Cả hai là bạn thân của nhau và cùng chung một nhóm là nhóm Sáng Tạo. Mai Thảo là nhà văn, Tô Thùy Yên là nhà thơ. Hơi thơ của Tô Thùy Yên bi tráng, thơ của ông là những trò chuyện với Tâm Linh, với Thiên Nhiên mà ở đó không phải để nhìn ngắm, chiêm ngưỡng mà như một đối tượng để trầm tư, đối thoại.
Mai Thảo và Tô Thùy Yên cùng trong một thời điểm đưa ra hai bài thơ: bài Ta Về của Tô Thùy Yên và bài Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền của Mai Thảo. Cả hai bài đều là tuyệt tác, đều là những vần thơ rung động tim người, có điều hai bài đi ngược chiều nhau.
Mai Thảo sáng tác khi đang trong khoảng thời gian già yếu, nhiều trọng bệnh, trên đường đi về cõi chết, Tô Thùy Yên viết khi từ cõi chết trở về.
Cũng là Về, Mai Thảo thì thấy:
"ta thấy hình ta những miếu đền
tượng thờ nghìn bệ những công viên
sao không, khói với hương sùng kính
đều ngát thơm từ huyệt lãng quên"
hay là:
 ta thấy muôn sao đứng kín trời
chờ ta, Bắc Đẩu trở về ngôi
sao không, một điểm lân tinh vẫn
cháy được lên từ đáy thẳm khơi
Mỗi đoạn thơ chia hai câu trên thành lòng khao khát và hai câu dưới tự hỏi chính mình: Tại sao lại không? Bởi vì ... Nhưng tỏa trong không gian cái lòng độ lượng và thanh thản chịu đựng.
Tô Thùy Yên khi từ cõi chết trở về, cái nhìn cũng mênh mông và tráng khí:
Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi
Nỗi buồn của Tô Thùy Yên không thảm, mà bi tráng, thiết tha.
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.
Tôi ngồi đây và nghĩ tới Đi và Về. Đi Việt Nam hay Về Việt Nam. Ngay từ lúc ngồi trong phi trường ở Mỹ nghe những đồng hương nói chuyện, dường như không ai dùng chữ Đi mà chỉ nghe chữ Về. - "Về Việt Nam lần này chắc tui ráng đi Sapa một chuyến, nghe nói đẹp lắm" hay "Lần trước bà về, có ghé Rạch Giá không?"
Mỗi người về mang một tâm trạng khác nhau, cũng là thăm lại vùng đất khi xưa sinh sống, cũng là tìm gặp gia đình thân hữu, cũng là muốn hít thở lại cái không khí ngày xưa, sống lại cái không gian kỷ niệm, nhưng khi ra đi người nào cũng thấy lòng man mác.
Con ngõ nhỏ ngày xưa quanh co lầy lội, đưa về căn nhà mái tôn có giàn bông giấy tím, bây giờ con ngõ đã nâng cao, trải bê tông sạch sẽ, căn nhà xưa đổi chủ, xây cao lên ba bốn tầng, nhưng cái cảm giác đi về vẫn là cái rạo rực như ngày xưa đi nghỉ hè xa về nhà. Dòng kênh xưa nơi mỗi buổi chiều nắng xuống, cùng một nhóm bạn trong xóm chơi U Mọi, bắn bi, đánh khăng đánh đáo đã đời, rủ nhau nhảy ùm xuống bơi lội thỏa thích, thì nay dòng kênh đó có bờ bê tông bao bọc, thiếu đi những cội cây Đước cây Tràm…
Trong nỗi cảm hoài của buổi trở về, chúng ta bắt gặp từ rất nhiều danh tác, từ thơ qua nhạc, cái nào cũng là một nỗi niềm u uất:
Phạm Duy ngậm ngùi: Mẹ có hay chăng con về, chiều nay thời gian đứng im để nghe...
Anh Việt Thu tha thiết: Người về, một mùa thu gió heo may. Về đâu… Có nhớ chăng những vì sao long lanh...
Nghe Trương Vũ kể nhiều đêm nằm bỗng nhớ Nha Trang tới tê người.
Nghe Phạm Cao Hoàng nhớ Đà Lạt. Nghe Đinh Cường nhớ Dran. Cái nhớ mông lung, cái nhớ dịu dàng, nhớ mà không thể hình dung ra cụ thể là nhớ cái gì. Không chắc đã là con đường xưa, ngôi trường cũ, khung cảnh chung quanh, không gian đã sống, cũng không chắc là một bóng hình, một kỷ niệm hay một rung động đã qua. Mà có lẽ nó là một tổng hợp các thứ ấy trộn vào nhau theo một thứ tự vô hình nào đó, vào một thời điểm nào đó đã ghi một dấu ấn khó phai. Có phải đó là cái hồn của nơi mình đã sống vẫn tồn tại trong lòng mình hiện tại?
Mới đây, trên facebook, đọc được bài thơ đắng lưỡi tê môi của Hoàng Lộc, bài Anh Không Về Nữa:
anh không về nữa.
quê nhà
đã quen gió táp mưa sa mất rồi?
anh không về nữa người ơi
trái tim vừa cũng hết thời yêu thương?
phải đi cuối lối cùng đường
phải đau khắp phố khắp phường người dưng
để khi ngoảnh lại
trông chừng...
Bài thơ làm tôi choáng váng, tê điếng người. Bữa đó, dù đang bị tiểu đường, cũng ráng pha ly trà đường uống cho đỡ đắng cổ.
Đi là tìm một cái gì mới, khung cảnh mới, đời sống mới, xã hội mới và rung cảm mới. Còn Về là được sống lại với chính mình của một thời đã qua. Về là hồi sinh, là được thoải mái thả mình vào ký ức, là gặp gỡ cảm giác non nớt của mình ngày xưa, và rung động thực của mình bây giờ. Con hẻm nhỏ lầy lội uốn lượn theo bờ cỏ bụi cây ngày xưa, đưa về căn nhà mái tôn lụp xụp không còn nữa, thay vào đó là đường đổ bê tông, căn nhà cũ đã đổi chủ xây lên cao đẹp, thế mà cái cảm giác rưng rưng vẫn không thay đổi.
Đến một tuổi nào đó, người ta ngần ngại cho những chuyến đi, nhưng vẫn náo nức thèm mong một cuộc trở về. Tôi cũng vậy. Về lại Saigon lần này, tôi không dám nhảy xuống dòng kênh bơi lội, không cần phải núp vào gốc cây trước cổng trường Nguyễn Bá Tòng nhìn em tan học về, không được đạp những vòng xe nửa đêm từ Phú Nhuận về Nhà Bè, đường vắng lặng để vừa đạp xe vừa hát um sùm ... "đường thênh thang gió lộng một mình ta", cũng chẳng cần ghé cà phê Bình Minh để nhìn đôi mắt sắc như dao, cũng chẳng còn được cái thú vui đêm rằm, chèo ghe theo đường rạch đi lễ chùa Ông. Nhưng kỳ lạ là tôi thấy chẳng mất đi đâu, vẫn nguyên vẹn trong tôi cả một thời nào xa lắc, vẫn quẩn quanh bên tôi tiếng cười đùa giọng nói đặc trưng Saigon của người xưa cũ.
Nói cho cùng, trở về chính là nhân đôi kỷ niệm, được sống, được thở và được vui buồn một lần nữa cái tuổi thanh xuân đã qua của mình.
Ngày mai tôi lại chia tay với Saigon, tôi không đoán được chuyến sau về tôi sẽ gặp ở Saigon điều gì. Những gì tôi thấy và gặp gỡ trong lần về này sẽ thành kỷ niệm? Hay lần sau tôi về tôi lại hoài niệm tới một khoảng xa hơn nữa? Đời sống như một giòng chảy, nhìn thì giống nhau, nhưng có ai được tắm hai lần ở một giòng nước đâu. Thương quá Saigon của mỗi lần trở lại.

Nguyễn Minh Nữu
Virginia, tháng 3-2017

Monday, April 3, 2017

                                Mẹ và con ( ảnh sưu tầm )



NGÀY CUỐI TUẦN CỦA ANH


Sáng thứ bảy anh thức dậy như mọi ngày, lơ mơ nhớ những ngày trong tuần vội vã, trong cái không khí im ắng, thanh thản của buổi sáng cuối tuần, nhưng anh cũng chẳng thể nằm nướng để vươn mình qua lại lắng nghe chim hót ngoài những hàng cây ven đường, hay lắng dõi theo những bước chân vui của những con chiên đi lễ ở một nhà thờ gần đó…
Anh vội vàng tung chăn dậy, đi tắm nhanh kẻo má thức dậy rồi chẳng biết bà mở cửa đi đâu, rồi sẽ là hớt hơ, hớt hãi chạy đi tìm…má như tìm con thơ đi lạc.
Suốt bốn năm nay, từ ngày má anh đi sâu vào con đường Alzheimer, những cuối tuần với anh là những ngày mệt mỏi, căng thẳng. Cứ chiều thứ sáu mọi người trong sở vui mà anh chẳng thấy vui nỗi, chẳng háo hức gì hai ngày được nghỉ.
Cuối tuần của anh vẫn là dậy sớm,  tắm vội vàng rồi chờ má thức dậy, tắm cho má, khi anh mặc tả cho má xong, anh mỉm cười rồi vỗ vào mông bà, {tôi liên tưởng hình ảnh ngày xưa sau khi mặc tả cho con tôi cũng âu yếm vỗ mông con bé như vậy}, bà ngơ ngác chẳng vui, chẳng buồn nhưng mặc quần áo đẹp, thơm tho vào thì bà cũng cười tươi lắm, rồi nói vu vơ gì đó mà anh nghe chữ được chữ mất chẳng hiểu đầu đuôi gì… Có những lần bà làm xấu trong tả anh thay tả mà bà đứng không yên, rồi hai má con loay hoay thế nào bà lấy chân dẫm bẹp lên tả làm văng tung toé ra sàn nhà… Anh không biết bao lần dỡ khóc dỡ cười, cứ cố nén bực giận vào lòng mà không thể không phát vào chân bà một cái, {y như cái thuở con bé ngày xưa làm xấu còn lấy tay quậy lung tung khắp giường, dù cố bình tĩnh tôi cũng không thể nào không hét lên Trời ơi đất hỡi, và cũng phát cho mấy cái}, rồi lại dọn dẹp, tắm rửa lau nhà…
Những ngày má anh mới phát bệnh đôi lúc bà vẫn nhớ điều này điều kia, anh còn chở bà đi chợ cho bà chọn mua đồ bỏ lên xe, cứ lấy thoải mái ra đến quầy thì anh mới bắt đầu chọn lại, anh muốn cùng má làm những việc ngày trước đã làm cho bà khỏi mau quên, nhưng rồi chỉ là thời gian, giờ thì bà không nhớ gì nữa, đôi khi bà buột miệng hỏi anh: thằng M. đâu rồi, anh thương bà quá chỉ cười: nó đây! Nhưng bà hỏi chỉ để hỏi, là chút tro tàn ký ức còn lại hay một vùng nhỏ xíu chất xám nào chưa bị hư hao bật ra thôi chứ bà có thèm nghe trả lời đâu… Vậy mà anh thấy vui vui trong lòng, má vẫn nhớ thằng con thương của má…
Hai ngày cuối tuần của anh khi nào tôi gọi hỏi thăm anh làm gì thì cũng là “anh ngồi canh má”, má không phải đứa con nhỏ để anh có thể vừa canh vừa chơi đùa được với nó, má là đứa con nít lớn lại rất quậy phá, chỉ cần anh lơ đễnh một chút, hay chăm chú làm việc trên máy tính một chút mà nghe tiếng sột soạt bên trong chạy vội vào thì y như rằng một là má anh đã lật cái TV nằm úp xuống hay đang trong bếp lấy nồi niêu sạch ra rửa hay vào toilet rửa tay trong bồn cầu… Chỉ khi nào anh nghe má hát cải lương hay nói chuyện một mình trong phòng thì anh yên tâm, khi tiếng nói ngưng lại thì anh phải lo chạy vào để xem…em bé lớn đang phá tới những thứ gì rồi.
Những đêm anh thức giấc nửa chừng anh chạy qua phòng má xem má thế nào và có lẽ đã quen với những linh tính không hay nên anh không lạ khi vào phòng thấy má anh cỡi hết quần áo ngồi co ro một góc phòng, ra giường mền gối lôi hết ra vất xuống đất, anh thương má quá mà cũng không nén được câu than thở: má ơi sao má làm khổ con quá vậy! Rồi lại mặc quần áo, trãi ra giường, và anh quấn má vào mền như người ta quấn tả em bé để má khó ngồi dậy, để má nằm yên rồi ngủ quên, anh lại ngồi canh cho má ngủ rồi mới về phòng…đêm qua trời sáng còn giờ đâu để ngủ?! Bởi vậy có lần anh nói với tôi anh ngủ trưa mười lăm phút trong xe ở sở làm mà ngon hơn ngủ suốt đêm ở nhà, vì ở nhà anh có ngủ yên bao giờ… {Điều anh nói có gì khó hiểu với tôi khi nhớ lại những ngày chăm con thơ bị bịnh, có người mẹ nào có thể ngủ trọn giấc được, ba bảy phút lại chập chờn thức dậy sờ tay chân con xem nóng lạnh thế nào.} Anh chăm chút và lo cho má nên dù trời không lạnh mấy vẫn mở máy sưởi kẻo lúc anh ngủ quên mà má làm vậy thì cũng không đến nỗi cảm lạnh. 
Dù thế nào, vất vả, mệt mỏi anh vẫn không muốn đưa má vào trại nuôi bịnh hay nhà dưỡng lão bởi anh hiểu ai vào đó rồi cũng rất nhanh chết, đâu đủ người để gần bên chăm sóc từng ly từng tý như anh. {Tôi nhớ đọc đâu đó có một người hỏi một ông cụ vì sao cứ hay vào thăm nuôi bà vợ ông đã bị Alzheimer lâu rồi, bà có biết gì nữa đâu, thì ông đã trả lời rằng bà không biết nhưng ông biết }. Thật cảm động biết bao về điều đó, về những con người sống hết lòng với tình mẹ cha, chồng vợ, lòng hiếu thảo không đếm đo được… Họ sống bằng tất cả lòng từ bi như những vị bồ tát.
Cũng có những ngày tôi nghe giọng anh vui trong điện thoại khi anh nói về món ăn má anh thích, tôi hỏi sao anh biết má thích, anh nói: biết chứ, má ăn mà cười cười, chỉ chỉ thức ăn như hối anh đút má nhanh và má nhai miệng nhỏn nhẻn thấy thương lắm! {Tôi cho rằng đó là câu nói dễ thương nhất của một người con lớn tuổi chăm mẹ già bịnh, nó cũng dễ thương như những câu nói ngây ngô khi con tôi còn bé mà đôi khi nhớ lại tôi vẫn mỉm cười một mình}.
Tôi vẫn hằng mong má anh không quậy phá quá để anh có chút thảnh thơi tâm trí, mong anh đủ sức khoẻ để lo cho má anh cho trọn lòng hiếu thảo bởi dù sao một ngày nào đó không còn má anh nữa cũng sẽ là một nỗi hụt hẫng khó phai với anh.

Duy Xuyên

Monday, March 27, 2017




CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ  / THƠ VŨ HỮU ĐỊNH / NHẠC PHẠM DUY / TRANH  MIMOSA - OIL ON CANVAS - 65X80

Những bài thơ phổ nhạc thường là những bài thơ hay, vì ít ra nó cũng chạm vào được những sợi tơ đàn của nhạc sĩ, vốn mang tâm hồn nhạy cảm, để lời thơ thoát chữ thoát trang giấy mà theo âm thanh bay lên. 
Người làm thơ ấy gọi là phố núi để gợi lên một địa danh cao nguyên heo hút miền biên giới, phố núi Pleiku có bước chân của Vũ Hữu Định chạm tới đã trở thành thân thương và gần gũi hơn với chúng ta, một thời. Thời ấy, cả bài thơ lẫn tác giả nếu không có nhạc Phạm Duy chạm đến, có lẽ cũng chẳng mấy ai biết tới.
Vũ Hữu Định làm thơ không nhiều, có thể vì không có nhiều dịp phổ biến chăng, để mãi đến khi anh không còn làm thơ nữa, bạn bè thương tiếc mới gom thơ anh để xuất bản thành tập. ( Như NT. Nhiên, anh vắn số ở tuổi 40). Trong số những bài thơ ấy, tôi chép lại bài thơ này:

ĐỨNG GIỮA ĐỒNG KHÔNG 

một bầy sáo nhỏ qua sông 
một em tôi đã cầm lòng đi xa 
như con sông nhỏ thật thà 
sớm hiu hắt tạnh, chiều sa mưa nguồn 

một bầy sáo đã đi luôn 
một em tôi đã để buồn lại đây 
con chim quyên đã lạc bầy 
xuống sông vọc nước đợi ngày xế ngang 

một bầy sáo nhỏ bay hoang 
một em tôi đã bỏ làng đi xa 
tôi ngu ngơ giữa chiều tà 
em đi để lại mình ta giữa đồng 

Tôi biết anh một lần ghé tòa soạn TN (VHĐ là bạn với nhà thơ PC Sa). Dáng nhỏ, khá bụi bặm, mang vẻ lãng tử của các tay sinh viên trọ học. Anh ít nói, cả khi nhà văn Nhã Ca đùa vui : Mắt em ướt, tóc em ướt, cái chi mô em cũng ướt ướt hết, dễ thương chi lạ.

Cám ơn nhà thơ VHĐ, đã cho chúng ta biết còn một chút gì để nhớ để quên. Và nhớ với quên cũng là một chút gì để thương nữa. May mà có anh...

Bài thơ Còn chút gì để nhớ gồm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu, mỗi câu từ 7-8 chữ, mang theo những hình ảnh nhẹ nhàng, tế nhị của phố núi Pleiku, từ cảnh vật:

phố núi cao, phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
Tới con người:
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
nên em hiền như mây chiều trong

Bài thơ được viết năm 1970, khi nhà thơ sang thăm 1 người bạn gái ở Pleiku. Cùng năm này, bài thơ được đăng báo Khởi Hành của Viên Linh và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc, rồi trở nên phổ biến với giọng hát Thái Thanh. Ca khúc được phổ theo nhịp 3/4, điệu Boston, lời thơ vẫn giữ nguyên và với bàn tay điêu luyện của Nhạc sĩ Phạm duy, ta thất trong đó thành phố của sương mù, của em má đỏ môi hồng., của cuộc tình mong manh lạ lùng ..May mà có em đời còn dễ thương..
Sau này nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, bạn thân của ông, cũng có 1 tiểu thuyết lấy tên Còn chút gì để nhớ.
Vũ Hữu Định mất năm 40 tuổi.
( từ Đinh Tiến luyện )



                                     Còn chút gì để nhớ
                                    Thơ: Vũ Hữu Định
                                     Nhạc :Phạm Duy 
                                    Ca sĩ : Sĩ Phú.

Wednesday, March 22, 2017


                                           Ngày đó chúng mình
                                           Nhạc : Phạm Duy
                                           Giọng ca : Duy Trác


Duy Trác & Ngày đó chúng mình

(Bài viết của Phan Xuân Sinh)

Vào lúc 8.30 tối ngày 3 tháng 12 năm 2016. Gia đình ca sĩ Duy Trác do các con và cháu của ông tổ chức một đêm nhạc dành cho vợ chồng ông mà đên hết cuối chương trình, chúng tôi mới được biết, đêm nhạc kỷ niệm 55 năm ngày cưới của ông bà. Tại Valentino, 7242 Boon Rd, Houston. Các con của ông không có ai theo nghiệp cầm ca của bố, nhưng từ giọng hát đến cung cách trình diễn chúng ta có được một cảm nhận thuộc con nhà nòi và hơn nữa đây là đêm dành cho bố mẹ nên các con cháu của ông hết lòng với ông bà, cho ta thưởng ngoạn một đêm rất đặc sắc thú vị.

Nói đến Duy Trác có nhiều bài vở trên sách báo trước đây nói về ông, ông là một ca sĩ đã thành danh từ thập niên 50 đên thập niên 75 tại Sài Gòn. Nhưng con đường ca hát của ông có vẻ tài tử, ông ít xuất hiện trên sân khấu nên nhà văn Duyên Anh khi đề cập tới ông bằng thốt lên “ca sĩ cấm cung”. Ông là một luật sư, là một thẩm phán. Có lẽ nghề nghiệp nầy đã nắm chặt chân ông lại, không cho ông xuất hiện những nơi đô hội để cho người khác mua vui. Tuy nhiên tiếng hát của ông đã phá vỡ bức tường, xuyên thấu vào lòng những người yêu nhạc khó tính, ông là một ca sĩ hiếm hoi để lại trong lòng người nghe một sự kính phục từ giọng hát đến nhân cách. Ông là một người hiền hòa, dễ mến khi ta được tiếp xúc. Ông đã giã từ nghiệp ca hát hơn mười mấy năm nay với một lý do đơn giản “tuổi già”. Khi đã từ giã thì ông khép kín dủ những người thân thích trong gia đình yêu cầu , ông vẫn không hát. Có lẽ nghành luật đã dạy cho ông một nguyên tắc không được vi phạm điều mà đã trở thành quy luật khi ông đã đặt ra.
Hơn mười năm trong tù cải tạo, đã khiến con người của ông trầm ngâm hơn. Và cũng chính nơi đây đã cướp mất của ông sức lực và hăng say. Khiến ông không còn tha thiết với những gì mà thời trai trẻ cuốn hút ông. Thời gian sinh sống tại Hoa Kỳ ông làm Đài Phát Thanh và nơi đây ông đem kiến thức và nghệ sĩ tính của mình, lôi cuốn một số lớn thính giả lắng nghe, đến khi các con của ông trưởng thành, ông cũng từ giả hẵn Đài Phát Thanh. Khi tôi đến Houston sinh sống, được anh chủ nhiệm tờ nguyệt san Văn Hóa mời riêng tôi và ông đi uống cà phê. Đây là lần đầu tiên tôi gặp ca sĩ Duy Trác. Ông ít nói và chỉ nói khi cần thiết, tôi thấy ông ngồi suy tư, tôi hỏi ông nghĩ gì? Ông nói với tôi là tên của anh thấy quen lắm, nhưng không biết gặp ở đâu? Tôi chỉ cười chắc ông lẫn lộn với ai đó. Hai tuần lễ sau ông gọi điện thoại cho tôi, ông báo cho tôi biết ông đã nhận ra tôi rồi. Tôi là tác giả ông đã đọc truyện trên đài phát thanh. Rồi ông mang cho tôi những CD mà ông đã đọc. Từ đó tôi rất thân tình với ông.
Nói về ông không hết được. Ông là con người của quần chúng được thính giả trọng vọng, nên chiều sâu của đời ông khá dài và mọi người trân quí. Tôi xin chấm dứt những dòng chữ nói về ông để trở lại với “đêm nhạc với gia đình Duy Trác”. Trong Thư Mời có ghi 4 câu thơ:

“Anh nhỉ đôi ta không trẻ nữa
Mắt thôi trong và tóc hết xanh
Nhưng trái tim ta còn thơm mãi
Hương vị cuộc tình em với anh”

Không đề tên tác giả 4 câu thơ nầy, nhưng nội dung chúng ta nhận được hình như bà viết cho ông. 55 năm sống với nhau. Tình nghĩa ấy đã thấm đẫm trong thịt da, trong máu huyết. Các con của ông bà muốn ca tụng tình nghĩa của ông bà bằng một đêm âm nhạc, để bố mẹ đọc được tấm lòng của các con. Quả thật các con của ông bà đã làm được một điều rất ý nghĩa và cũng rất ngoạn mục. Những người ngồi nghe chật ních hội trường từ đầu chương trình đến cuối chương trình, gần 1 giờ sáng mới chấm dứt. Tôi cũng không biết thế nào để diễn tả được đêm nhạc như thế nầy. Nó mang vóc dáng rất trí thức, những nhạc phẩm được chọn lọc kỹ càng. Các con của ông bà thể hiện một phong cách biểu diễn thỏi mái nên được thính giả thích thú.
Người điều khiển chương trình là thi sĩ Ngu Yên, rất duyên dáng trong vai trò của mình, cuốn hút thính giả bằng lối ăn nói đượm chút hài hước thâm thúy, sâu sắt. Trong chương trình đặc biệt có những cô cháu gái của ông (thế hệ thứ 3) vừa ôm đàn vừa hát, tạo nên một đêm nhạc dành cho ông bà một sự kinh ngạc của thính giả, thành công ngoài suy nghĩ của mọi người.
Sau khi nghỉ giải lao, đêm nhạc được tiếp nối bởi những ca sĩ thân hữu của gia đình. Những khuôn mặt mới lạ, những giọng ca chúng ta chưa từng nghe, nhưng chúng tôi phải công nhận rằng những ca sĩ nầy góp một bàn tay tạo nên đêm nhạc thêm phần mới lạ, bởi những giọng ca rất trưởng thành và hào hứng. Đêm nhạc chấm dứt lúc 1 giờ sáng ./

Phan Xuân Sinh
( viết từ Houston )



Duy Trác và hiền thê.

Friday, March 17, 2017

Ảnh (Khôi Việt)

Câu chuyện của hai người lính già


Từ bãi đậu xe đến chỗ làm việc, tôi vẫn thường đi ngang quán rượu đó. Buổi sáng sớm, quán chưa mở cửa, chỉ có Bob, đứng xịt nước tưới cho mấy chậu hoa treo lủng lẳng quanh patio. Lão già này làm việc ở đây từ lúc còn là thanh niên, bây giờ lưng đã hơi còng, tóc đã bạc, nhưng hàm răng hơi to một cách quá khổ trên khuôn mặt, vẫn còn trắng đẹp một cách kỳ lạ . Lão luôn chào trước khi tôi kịp mở lời: hey, young man. What's up? Not much, how's yourself, old man? Good, can't complain, young man. Ngày nào cũng nói với nhau y như vậy. Nhưng sau đó tôi phải nói dăm ba câu rồi chuồn lẹ. Nếu không Bob sẽ nói đủ thứ chuyện trên đời tưởng như không bao giờ dứt. Hình như người Mỹ già nào cũng thích nói chuyện và nói nhiều thì phải. 
-Chiều mày đi làm về ghé qua. Boss mới mướn ban nhạc chơi ở đây.
- Hay không?
- Không tệ lắm, có cô ca sĩ hát rất hay . Ba giờ chiều là tụi nó bắt đầu.
- Vậy sao? Chiều tôi ghé. Một chút thôi, cả ngày đi làm mệt tôi chỉ muốn về nhà. 
Nói thế chứ tôi quên ngay, tôi không mặn mà với nhạc Mỹ bây giờ. Rap tôi không ưa nổi. Còn nhạc của tụi trẻ Mỹ bây giờ khó nghe quá. Hay tôi là người Việt, lại thuộc lớp già nên không cảm được chăng? Cũng không hẳn như vậy, nhạc Mỹ của năm 60 vẫn còn theo tôi đến giờ mà. Có lẽ tôi chỉ thích hợp với soft rock. Mà chung quanh chỗ tôi làm, quán rượu, quán nhạc toàn chơi hard, metal rock. Đi ngang qua nghe thoáng cũng đủ nhức đầu rồi. 
Dọc theo đường, gần đó khoảng trăm thước là quán nhạc Jazz tên Preservation Hall. Nơi thường quy tụ những nghệ sĩ nhạc Jazz thuộc loại bậc nhất của Mỹ, dù bên ngoài nhìn nghèo nàn cũ kỹ. Louis Armstrong lúc còn sống nghe nói cũng chơi ở đây. Quán này nổi tiếng với giai thoại mặt tiền không được lau chùi đã 75 năm, khác với những quán bar có nhạc sống ở New Orleans là luôn mở hết các cửa. Preservation Hall cửa luôn đóng kín.
Quán rượu Bob đang làm cũng là một quán nhạc Jazz. Tôi mỗi lần nghe Jazz là buồn ngủ không chịu được. Tất nhiên là nhạc Jazz hay lắm chứ, nhưng nó có vẻ không hợp với cái tai tôi mấy. Mỗi khi đi đâu xa ngoài tiểu bang với con trai, Khôi, là tôi bị tra tấn với kho nhạc Jazz trong xe của nó. Đặc biệt là cô ca sĩ Nora Jones với giọng hát trầm buồn nhừa nhựa làm hai mắt tôi muốn mở không lên.
Buổi chiều bước vội vã ra chỗ đậu xe, đã khiến tôi chẳng chút hào hứng nào ghé chơi, nếu tiếng hát và âm điệu bản nhạc quen thuộc không kéo chân tôi lại. 
Cô ngồi hát cạnh cây đàn piano trong góc cuối của quán, bên phải người nhạc công. Áo trắng và váy dài đen. 
Tôi đứng sững nơi cửa quán nhìn vào. Cô đang hát bản nhạc kỷ niệm vô cùng quen thuộc của tôi. Both sides now. Judy Collins hát- Mà ngày xưa tôi cùng chiếc radio nhỏ đợi chờ nghe mỗi tối trong chương trình nhạc của Chris Noel, dành cho quân đội Mỹ tại Việt Nam.
Cô vẫn hát, và nhẹ đưa tay chào. Chắc cô cũng hơi ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông Việt Nam đứng nghe cô hát như vậy. Nhưng trong ánh mắt cô, tôi thấy lấp lánh niềm vui. 
Sau đó chúng tôi quen nhau. Vì nơi tôi làm việc là một nhà hàng cách chỗ của cô không xa lắm. Cô hay ghé qua ăn tối. Julie. Tên của cô. 
-Chắc tôi hát không tệ lắm. Phải không? Hôm ấy tôi thấy ông sững lại khi nghe tôi hát.
-Nhiều lý do lắm Julie. Bài này gợi lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Nó là một Top Hit của năm 67. Và tất nhiên, giọng của em rất hay và truyền cảm, chẳng kém gì Judy Collins. Còn đẹp thì chắc chắn em đẹp hơn bà ta bây giờ rồi.
Cô cười. Và tôi, ngay lúc đó tôi nhận ra một điều, đàn bà Mỹ thường có gò má cao, miệng hơi rộng, nhưng tạo cho họ một khuôn mặt đặc biệt, và cười rất có duyên. 
- Nói cho tôi nghe Vivi. Cô gọi tôi là Vivi, có lẽ để cho dễ gọi. Một bài hát mà theo đuổi ông mấy chục năm, vậy chắc toàn những kỷ niệm đẹp?
- Tất nhiên là nhiều, nhưng không hẳn là những kỷ niệm đẹp. Tôi còn đi học, chưa có mối tình nào để nhớ. Nhưng qua năm 68 thì tôi hay nghe bài hát ấy lúc nằm dưới hầm trú ẩn. Bọn Việt cộng mở ra chiến tranh khắp nơi. Miền Nam chúng tôi sống rất thanh bình, nhưng họ có mặt chỗ nào là có tang thương chết chóc chỗ đó ngay. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong tích tắc. Như năm đó, tôi chở cô cháu gái ngoan hiền dễ thương như thiên thần của tôi đi chơi, ăn kem. Chở cháu về nhà, cách Sài Gòn vài dặm thôi. Mấy ngày sau tới thăm, chỉ còn là đống gạch vụn ngổn ngang. Tưởng như cháu và gia đình chưa từng hiện diện nơi đó. 
-Sao khủng khiếp vậy ông, điều gì đã xẩy ra?
- Một trái hoả tiễn 122 ly đã rớt xuống. Tôi vẫn hy vọng cháu và gia đình trước khi chết không cảm thấy đau đớn. Miền Nam chúng tôi ngày đó là như vậy. Trẻ em đang ngồi học trong lớp bỗng dưng chết thảm khốc vì những trái đạn súng cối của họ bắn vào. Tất nhiên là họ bắn có chủ ý. Gây kinh hoàng, chết chóc để trấn áp người dân. Giống hệt như những đám khủng bố ở Trung Đông bây giờ. 
- Nghe như ông nói, có cảm tưởng miền Nam của ông sống trong kinh hoàng và khó khăn lắm.
- Không hoàn toàn vậy đâu em. Cuộc sống hồi ấy thật đẹp đẽ và thanh bình nếu không có Cộng sản. Một lần ghé qua tôi thấy em hát Summertime, ngày xưa tôi cũng rất thích bài hát đó. Summertime. When the living is easy... Em ạ. Miền Nam chúng tôi không có bốn mùa như Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ có mùa Hè. Nóng gần như quanh năm. Nhưng vẫn có những cơn gió mát và mưa lạnh. Tăng thêm thi vị cho Summertime. Hình ảnh mà em thấy trong bài hát Summertime đó chính là hình ảnh của quê hương chúng tôi. Tôm cá đầy sông, cây trái trĩu ngọt, lúa bắp bát ngát. Mùa Hè của chúng tôi có đầy trong rất nhiều tác phẩm thi ca miền Nam. Nhưng sau khi tôi gia nhập quân đội, bọn Cộng sản đã mang vào miền Nam chiến tranh ngập trời. Mùa Hè đỏ lửa. The fiery Summer. Đó là tên gọi của báo chí đã đặt cho cuộc chiến năm 1972.
- Ba của tôi trở về Mỹ năm 73 cùng với cả đơn vị của ông. Được đón tiếp như những kẻ ăn cướp và baby killer. Đó là một thành công lớn của bọn leftist và hippies. Tôi ra đời sau này, chỉ nghe mẹ tôi kể lại những sỉ nhục mà người lính Mỹ phải chịu khi trở về nước. 
- Xin Chúa phù hộ cho ba của em. Tôi nói. Còn chúng tôi, những người sĩ quan của Rebubplic of Việt Nam. Không được may mắn như ba của em. Chúng đưa chúng tôi vào những trại tập trung sâu trong rừng thẳm. Rất nhiều người đã chết vì thiếu ăn, vì đói lạnh trong giá rét kinh hoàng ở miền Bắc. Trở về nhà với tấm thân tàn tạ. Bao nhiêu người đã mất hết vợ con, nhà cửa. Vì khi họ còn ở trong trại tập trung, vợ con họ trốn chạy Cộng Sản và vùi thây trên biển cả trong những chiếc thuyền mỏng manh chỉ dài chừng 20 đến 30 feet. 
Ba của em khi trở về nhà vẫn còn gia đình, nước Mỹ vẫn đứng sau lưng. Còn chúng tôi, khi ra khỏi tù đã không còn Tổ Quốc.
Tôi đã gặp Daigle. Ba của cô. Ông đã không còn khoẻ nữa. Căn bệnh PTSD (post trauma stress disorder) đã biến ông từ một Navy Seal đẹp trai cao lớn trở thành một ông già còm cõi không còn sức sống. Chúng nó đã phản bội tao, phản bội chúng mày. Bọn phản chiến đó. Chúng chặn ở phi trường, la hét, chửi bới phun nước miếng vào chúng tao. Còn chúng mày thì đi tù. Vì nước Mỹ đã bỏ rơi Đồng Minh. Mỗi lần gặp tôi, Daigle ngồi nói miên man không dứt. 
- Chuyện qua rồi. Đừng trách mình như vậy. Cá nhân tôi chẳng bận tâm về điều đó. Sinh ra trong một đất nước giàu có tươi đẹp,không ai muốn chết nơi một xứ sở chẳng liên quan gì với mình. Chẳng ai muốn con cái mình hy sinh như vậy cả, Daigle. Con tôi gia nhập Thủy Quân Lục Chiến vì nó thích, nhưng tôi chẳng bao giờ thích được. Nó đi lính mà tôi ở nhà bị bệnh mất ngủ vì lo lắng. Tôi vẫn biết ơn những người lính trẻ qua chiến đấu ở nước tôi. Kể cả ông nữa. 
-Mày biết không? Mấy thằng cựu chiến binh thường khoe khoang về những ngày ở Việt Nam như một cái gì ghê gớm lắm. Nhưng cá nhân tao lại thấy những thằng lính Việt Nam tụi mày đáng nể hơn. Tụi tao cái gì cũng có,cần gì thì vào PX mua. Thanksgiving, Christmas có quà gửi qua. Có cả Fried Turkey, cake, bất cứ cái gì chúng tao cần. Còn tụi mày, có lần tao chạy xe Jeep trên đường thấy đám bộ binh tụi mày ngồi ăn với bịch gạo sấy và một con cá khô. Lính Việt Nam tụi mày sống thiếu thốn cực khổ quá. Daigle nói chữ "gạo sấy với cá khô" rất đúng giọng. Làm tôi không nhịn được cười. Đặc biệt, Daigle nói hai chữ " Đủ má" hệt như người Việt Nam.
- Làm sao ông nhớ mấy chữ đó. Ông làm tôi muốn chết vì cười. 
-Tao nhớ chứ, nhiều lắm. Hồi đó đi công tác với lính Việt Nam tụi mày rất nhiều lần. Có khi ở chung trại cả mấy tháng. Nhưng lính Việt Nam toàn dậy tụi tao những chữ tục tĩu. Này, tao nói rất nghiêm chỉnh nhé. Nếu chúng tao dậy tiếng Anh cho người Việt, chúng tao luôn chỉ dẫn những gì chính xác và cần thiết nhất. Còn người Việt mày toàn nói bậy bạ. Có lần tao hỏi: I love you, nói làm sao. Nó dậy rằng: đù má tao. Tất nhiên tao chẳng vui vẻ gì, sau khi nói với một cô gái tao quen, cô ấy tưởng tao bị điên.
Daigle là một người nhận xét rất tinh tế và khiêm tốn. Ông không có thái độ ngạo mạn, đôi khi kỳ thị xấc xược như nhiều tay cựu chiến binh Mỹ tôi đã gặp.
-Ông rất mẫn cảm và hiểu biết, nhất là ông không gọi tên nước tôi kiểu coi thường như nhiều người Mỹ thường gọi là "Nam", thay vì nói Việt Nam. Đẹp trai và nói chuyện lôi cuốn như ông chắc hồi xưa ở Việt Nam thế nào cũng có vài cô bạn?
-Ba tôi nói ông có bạn gái lúc ở Việt Nam. Cũng còn giữ hình của cô ta đến sau này. Julie nói. Cô gần như ít xen vào câu chuyện. Cô thường ngồi tư lự với ly Margarita.
-Mẹ của cô có ý kiến gì không?
- Ồ không. Bà nói. Đó là những kỷ niệm đẹp. Và cô gái đó thật là đáng yêu.
Daigle cho tôi coi hình một người con gái ông quen, và yêu. Đó là một cô gái đẹp, dường như là nữ sinh trung học trong chiếc áo dài.
- Cô ấy có yêu ông không?
- Có chứ. Còn tao yêu cô ấy đến chết đi được.
- Tại sao không lấy nhau?
-Này Vivi. Lấy được người Việt tụi mày không phải dễ. Ngay cả bước chân qua cửa nhà cô ấy cũng còn chưa được, huống hồ xin cưới..Ngày xuống sân bay, gặp gia đình, tao buồn và khóc. Nói mày đừng cười. Không phải khóc vì mừng gặp gia đình. Vì tao nhớ cô ấy thì đúng hơn.
-Đúng vậy Daigle. Ngày xưa đất nước tôi mặc dù chiến tranh nhưng sống thoải mái và gắn bó với quê hương. Chẳng ai muốn rời bỏ đất nước cả. Và sự bất đồng ngôn ngữ đã khiến bức tường thành kiến đã cao lại còn cao hơn.

-Chị con ông bác của tôi, làm ở bộ Y tế, gặp một ông bác sĩ Quân Y Mỹ, rồi yêu nhau. Nhưng gia đình chị không cho bất cứ ai trong họ hàng biết, ngoại trừ tôi, ngày chị lên máy bay về Mỹ với chồng năm 74 cũng không ai biết. Âm thầm. Tôi mất liên lạc với chị từ dạo ấy. Ngày xưa, tình yêu quê hương đã trở thành cực đoan, tới mức trong gia đình không ai muốn con cái của họ lấy người ngoại quốc. Vì ai cũng nghĩ, con cái theo chồng, hoặc theo vợ người ngoại quốc là vĩnh viễn sẽ mất con. Trong mắt của người thiếu nữ Việt Nam, khuôn mặt của người Mỹ thật là xa lạ. Cho nên tôi nghĩ, phải yêu nhau ghê lắm mới dứt bỏ cha mẹ anh em, theo chồng về Mỹ, một nơi chốn hoàn toàn khác biệt với quê hương.
Người Mỹ còn phải khó khăn khi muốn lấy vợ Việt Nam như vậy; những chủng tộc khác còn khó hơn. 

Gì chứ lính Phi Luật Tân,Thái Lan, Đại Hàn (bây giờ là Hàn Quốc) con gái Việt Nam chẳng để vào mắt đâu. Ngày xưa con gái và dân Việt nói chung, nhìn mấy đám đó như mấy thằng ngốc và nhà quê. Lính Đại Hàn khi trở về nước, họ cũng mua xe đạp của Việt Nam, radio, đồng hồ, đủ thứ trên đời .Còn bây giờ, người dân làm đủ mọi cách để chạy ra khỏi nước, kết hôn với bất cứ một dân tộc nào để thoát đi. Kết hôn với một người Đại Hàn, sánh vai với một người Mỹ là điều mơ ước, là điều hãnh diện của đa số, nếu không nói là hầu hết người Việt Nam hiện nay. Vậy cũng được, nhưng những người đến từ những quốc gia một thời người Việt coi là dân tộc hạ đẳng thấp kém, nếu không nói là mọi rợ, cũng được gọi chung là "Tây"thì đó là điều quá đáng. Chữ "Tây" ngày xưa chỉ dùng cho người Pháp. Bây giờ mấy thằng đen thui Kenya, Nigeria chạy qua Việt Nam làm phu khuân vác, ăn cắp ăn trộm cũng gọi là "Tây". Chưa bao giờ giá trị của người Việt Nam lại bị hạ thấp như bây giờ.

- Tất nhiên tôi không khinh miệt tất cả. Nhưng ông có đồng ý là tới giờ dân của mấy quốc gia đó còn đi săn thú bằng dáo mác, còn đóng khố, thì tất nhiên không thể so sánh với dân tộc tôi được.
-Tao hiểu chứ. Hồi ở Việt Nam tụi tao thường đi nghỉ phép ở Taipei, hoặc Bangkok. Nhưng mấy chỗ đó thua xa Sài Gòn và Đà Nẵng. Nhất là Bangkok, không thể hơn Sài Gòn được. Chỉ hơn cái khoản gái điếm.
-Này Daigle. Năm 60 chúng tôi đã làm được xe hơi rồi. Tất nhiên không thể bằng Ford, GMC. Nhưng ông biết không. Khi Sài Gòn chúng tôi xe cộ dập dìu, nam thanh nữ tú chở nhau trên những chiếc Vespa, Lambretta. Thì Seoul của Korea lúc ấy còn là đám ruộng, dân chúng còn trồng rau ở đó. Đồ hộp Mỹ hồi đó tụi tôi còn chê, vì không hợp khẩu vị. Đồ hộp Đại Hàn hả? Chẳng người Việt nào ăn đồ hộp của Đại Hàn cả vì nó quá dở, cho dù họ cũng có đồ hộp thịt heo với đậu hũ, có cả Kim Chi nữa. Nhưng tôi cũng quăng nó vào thùng rác. Vì sao có thể ăn được, khi thường ngày tôi vẫn ăn thịt heo kho với tôm càng, với nước dừa thơm ngon béo ngậy. 
Những ngày gặp Daigle là những ngày nói chuyện dứt không ra, cho đến lúc Julie tới đón sau khi hát xong tại quán. Cô rất vui khi thấy ba của cô có người tâm sự. 
-Vivi biết không. Bạn cùng team của ba chết hết rồi, ba tôi mến ông vì là người cũng ở những địa danh mà ngày xưa ba tôi đã tới. Và cũng là lính.
-Còn ba của em cũng là người dễ mến và khiêm tốn nhất mà tôi đã gặp.
Hơn tháng trời bặt không thấy Daigle ghé chơi. Một hôm Julie bước vào đưa cho tôi một khung hình nhỏ. Bên trong là huy hiệu của Seal Team One. Mặt sau có mấy chữ " To my brother in Arms. Dwright Daigle".
- Ba tôi đã mất hai tuần trước. Bị colon cancer lâu rồi. Nói tôi mang cái này cho ông. Ba tôi không muốn ông biết, không muốn ông buồn vì mất bạn. 
-Ít nhất ra cũng cho tôi biết đôi chút. Mẹ cô giờ ra sao. Bà vẫn OK chứ.
-Vivi này. Ba tôi dấu không cho Vivi biết. Mẹ tôi đã bỏ hai cha con tôi lúc biết ông bị colon cancer. 
Thấy tôi ngồi yên không nói vì xúc động. Cô đập nhẹ vào vai tôi.
-Vivi. Chiều nay về nhớ ghé quán. Em sẽ hát tặng ông bài Both sides now.

Sau đó vài tuần không thấy Julie hát bên quán. Hỏi thăm lão Bob cũng lắc đầu không biết.Cô ấy đã đi rồi. That bird had flown. Lão nói.

( Nguyễn Khôi Việt )
   

                                     
                                      Both sides now-Judy Collins

Sunday, March 12, 2017

       
                            (  Khung cửa ) ảnh của bạn                       

Đêm. Nh núi.


Buồn. Như cỏ cây rầu rầu hiên vắng
Như tuổi già gõ cửa gọi tên
Như chuyến tầu đêm, sân khuya vắng khách
Như ráng chiều ôm núi chênh vênh

Không ai ngoài kia, bên đời ngóng đợi
Núi than thầm , khóc tiếng bi ai
Thả nỗi buồn theo trời lồng lộng
Ngày cũng tàn cuộc, mỗi sớm mai.

Đêm mông  lung.Chạnh lòng trăng ngó
Dửng dưng đùa mấy hạt sương đêm
Đậu khốn cùng nghe chừng tuyệt vọng
Ta và đêm. Đêm hóa thân mềm

Ta tập tễnh một ngày xuống núi
Thèm khúc Tiêu Dao “ Tiếu ngạo giang hồ”
Rượu mềm môi uống tình bằng hữu
Tuyệt tình ca hóa kẻ hồ đồ

Nhặt mảnh trăng. Đêm nằm nhớ núi
Mơ chuyện vá trời mơ vá viễn vông
Túi càn khôn nhốt tình rồ dại
Ta mang tình gối cõi thinh không

Nhưng đã quá già, chân chồn, gối mỏi
Thôi em đừng về, đừng vọng động nhau
Ai chẳng một lần qua cầu sinh tử
Giọt nước mắt thừa dành tặng ngươì sau

Nếu có lần nào, hụt chân vấp ngã
Hãy hái hạt buồn trên đám cỏ cây
Hãy nghe còi tầu nửa khuya vắng khách
Sẽ thấy đời trôi qua những nắm tay

Sẽ khóc một lần-một lần- lần nữa.
Tiếc hạnh phúc gầy không giữ được nhau
Sông núi không kề kêu trời quạnh quẽ
Lả tả hồ như một giấc chiêm bao.

Nt.

Tuesday, March 7, 2017


ảnh : Khôi Việt 
Lan man chuyện cà phê..

Ngày xưa, gần nhà hàng Thanh Bạch trên đường Lê Lợi. Có một tiệm với bảng hiệu nhỏ nhưng rất nổi tiếng: cà phê J. Martin. Họ bán cà phê hột đã rang sẵn, và chỉ xay khi khách đến mua. Chắc là của người Pháp để lại, vì hồi năm 60 những cơ sở thương mại có tên Pháp đều của người Pháp. Tôi nghĩ thế. Bố tôi hay ghé qua mua một hoặc hai lạng cà phê. Tôi vẫn nhớ đó là một người phụ nữ trung niên. Bà múc cà phê hột đã rang màu nâu bóng, thơm phức trong một cái bình tròn và cân, xay cà phê trước mặt khách hàng bằng cái cân bàn mặt kiếng, có cái kim chỉ sức nặng dài gần hai gang tay. Hình như cà phê được rang mỗi ngày nên rất ngon. Vì khi đi ngang tiệm, lúc nào cũng nghe mùi thơm cà phê bay thơm ngào ngạt. Thỉnh thoảng bố tôi cho tôi uống cà phê với ông, cho dù mẹ hay cằn nhằn: nó còn trẻ uống cà phê mất ngủ không tốt.
Tôi thích cà phê, và lớn lên, ghiền cà phê từ hồi đó. Tôi thích cái không khí của sáng sớm tinh mơ, tại các quán cà phê bình dân đầu ngõ, hoặc bên đường, lúc còn đang chong đèn. Các ông già trong bộ đồ bà ba trắng, hoặc đen, hoặc quần xà lỏn, ngồi kiểu nước lụt trên những băng ghế. Đa số các quán bình dân đều dùng băng ghế và bàn dài. Các ngài đều có chung một thói quen là đổ cà phê ra cái dĩa nhỏ đựng ly cà phê rồi húp xì xụp. Tại cà phê nóng. Nhưng riết rồi đó là thói quen rất phổ biến và đặc biệt của miền Nam. Cà phê pha bằng một túi vải nhỏ được kêu cà phê vớ. Có nơi gọi là cà phê kho. Có lẽ cái "vớ" lọc cà phê đó thường đi chung với cái siêu bằng đất mà người miền Nam dùng để sắc thuốc Bắc, lúc nào cũng đặt trên lửa than riu riu cho nóng. Cà phê pha bằng filtre uống nguội ngắt, mặc dù hương vị có thể thơm hơn. Cà phê "kho" có thể không ngon bằng pha filtre vì cà phê đều có pha số lượng lớn cà phê Mít, tên khoa học là Robusta, loại cà phê cho sản lượng cao, uống hơi chua, để giá thành rẻ, hợp với số đông khách bình dân, nhưng qua cách "kho" cà phê có mùi rất đặc biệt, và uống thật nóng,đến nỗi khi vào quân đội rồi, tôi vẫn có cái thú đi ra những quán cà phê "vớ" trong làng xóm gần nơi đóng quân. Còn tối trời, nhưng đã nghe nói chuyện râm ran, mùi cà phê thơm tỉnh người. Cũng ngồi kiểu nước lụt, đổ cà phê ra dĩa uống, mấy ông bà già lúc đầu lạ lẫm còn liếc xéo, sau vài lần ai cũng muốn gả con gái.
Ngoài những quán bình dân, còn những quán cà phê nhạc. Những quán này đều có tên như Hương Xưa, Làng Văn, Hầm Gió, v,v. Nơi đây là chỗ hẹn hò, hoặc ngồi giết thì giờ, hoặc gậm nhấm "Nỗi buồn thân phận" trước chiến tranh. Chỗ ngồi êm ái lịch sự hơn. Khung cảnh đẹp đẽ hơn. Và giá cả chắc chắn cũng đắt hơn.
Và tất cả các quán bình dân hay "quý tộc" của miền Nam hồi đó (từ miền Trung trở vào) đều giống nhau là không có cà phê độn như bây giờ.
Cà phê độn là gì? Đó là loại cà phê được trộn thêm vào đó bắp, đậu phộng, đậu nành. Bất cứ loại đậu gì, cốt để giảm thiểu số lượng cà phê thật sự hầu mang lại tiền lời gấp nhiều lần cho người làm ra nó, bán nó. Và số lượng chất độn đó gia tăng nhiều đến nỗi mới đây, có nhiều nơi sản xuất cà phê, nhưng trong đó hoàn toàn không có chút cà phê nào. Chỉ có đậu, phẩm màu công nghiệp và chất tạo mùi cà phê. Tức là khi uống cái chất đen kịt như vậy, chúng ta đã đưa vào trong cơ thể chúng ta một số lượng chất độc đáng kể. Mấy chi tiết này chúng ta đọc nhan nhản nơi báo điện tử trong nước bây giờ.
Cần nói thêm một chút, trước 75 không biết đến chữ "độn" và cũng không có cà phê độn bắp. Chỉ có cà phê ngon, hoặc dở, do cách rang xay mà thôi.
Mấy năm trước khi về thăm nhà. Tôi mang theo mấy bịch cà phê Starbucks vì không muốn phải đi uống thứ cà phê đáng sợ đó. Đồng thời cũng muốn cho mấy cậu em biết mùi vị cà phê Mỹ ra sao. Cà phê Mỹ giờ uống rất ngon, có lẽ họ không trộn nhiều cà phê Robusta trong sản phẩm của họ như trước. Starbucks chỉ dùng Arabica nên cà phê uống dịu và ngon.
Pha cà phê uống xong, không thấy cậu em nào nói tiếng khen ngon dở gì cả.
Mấy hôm sau hỏi cậu em, cà phê uống ngon không em?
Cậu trả lời uống cũng được!
Lúc ấy tôi hơi bất ngờ. Vì biết chắc đám em út quê nhà chỉ uống có cà phê độn bắp, đậu nành, hoặc có quỷ mới biết có gì trong đó.
Như vậy là cà phê của tôi dở. Tôi đã uống cà phê từ lúc chú còn nhỏ xíu! Không lẽ vị giác của tôi có vấn đề sai lạc? Chắc chắn không phải vậy.
Hôm sau mấy cậu em rủ đi uống cà phê. Phải nhìn nhận những quán cà phê ở Việt Nam tôi đã tới đều rất đẹp, trang trí công phu tráng lệ, nói theo ngôn ngữ bây giờ là "hoành tráng". Quán này cũng vậy. Là một căn nhà cổ với những cột gỗ lên nước đen bóng. Trong một khu vườn đẹp đẽ rất nên thơ. Có hòn non bộ và một hồ cá quá chừng đẹp.
Tôi gọi cà phê đen. Tôi chỉ uống đen từ khi biết nó. Cà phê màu đen một cách khác thường. Cũng nhắp thử một chút. Nó hơi có mùi cà phê, nhưng không có "vị" mà tôi quen thuộc bao năm nay.
Các cậu em uống cà phê vui vẻ thoải mái. Ly nào cũng uống cạn. Tôi nhắp một chút và không uống nổi. Chắc anh không quen uống cà phê Việt Nam?
-Cà phê pha đậm quá, anh quen uống hơi lợt một chút. Nhưng cà phê ở đây uống nghe "độn" rõ ràng, khó uống quá. Tôi nói.
Mấy cậu em cười xoà như thông cảm cho ông anh khó tính. Tụi em quen uống thứ cà phê này. Cà phê anh mang về uống lạt nhách!
Về lại Sài Gòn. Một người bạn lính cùng đơn vị ngày xưa dẫn tới một quán cà phê cũng yên tĩnh và đẹp như mơ. Quán Tre, Trúc gì đó không nhớ nữa. Già rồi hay sao mà chuyện gì cũng nhớ mài mại.
Kêu ly cà phê đá. Cũng cố nhưng không uống được bao nhiêu. Bạn hỏi: cà phê ở đây ngon có tiếng đó ông. Ông ở Mỹ lâu rồi nên không uống cà phê Việt Nam hả?
Tôi cười không trả lời. Mà cũng không biết nói sao. Cũng như các em tôi. Bạn của tôi đã quen ngồi trầm ngâm với những ly cà phê đen đặc quánh được làm bởi những nguyên liệu không hề biết xuất xứ ra sao. Nhưng họ vẫn thấy thơm ngon. Trong khi tôi nhìn thấy, cảm thấy đó không phải cà phê thuần tuý thì không nói ra được.
Họ vẫn ngồi. Vui vẻ hân hoan bên nhau, phì phèo thuốc lá. Bên cạnh ly cà phê chứa đầy những chất đáng ngờ. Có thể họ cũng biết điều đó. Nhưng cũng vẫn uống.
Còn những người khác, không chấp nhận cà phê "dởm" sẽ trở thành cô đơn khi kiếm cho mình một chỗ nào đó chỉ có cà phê "thật".
Có vẻ như sống lâu trong một môi trường nào. Con người trở thành thân quen với nó. Như đa số người uống cà phê biết nó đầy bắp. Thay vì cùng nhau tẩy chay những chỗ làm ra loại cà phê đó. Đi kiếm chỗ tốt để uống. Thì họ e ngại tốn tiền tốn sức. Và sợ rằng uống cà phê thiệt không ngon, thậm chí không chấp nhận cái mới, giống như không thích loại cà phê tôi mang về, cho dù biết rằng nó...nguyên chất.
Cứ để vậy, mặc kệ nó. Chẳng muốn thay đổi gì. Vẫn bình an vui vẻ thưởng thức những ly cà phê đầy "chất độc" thân quen. Vì vậy mà Việt Nam có câu "sống chung với lũ".
Có thể cũng đúng. Vì nhờ "lũ" mà vô số người dựa vào đó ăn nên làm ra, do vậy họ chẳng muốn thay đổi. Mà còn hãnh diện với những gì đang có. Quen thuộc không thể thiếu với những gì họ đang sống. Như đi biểu tình thì mang cờ đỏ đi để "tăng khí thế", mà không nghĩ rằng khi chính cái lá cờ đó đã xô đẩy họ tới đường cùng.
Vì vậy tôi chẳng muốn nói gì khi một người bạn khác kể những nơi ăn chơi, du hí ở Việt Nam, và kết luận: bên Mỹ tụi mày chẳng ăn chơi bằng Việt Nam đâu. Mày bên đó đi làm về ăn rồi ngủ không đi đâu, chứ đây cái gì cũng có. Tối nào tao cũng có độ. Tôi cũng không hỏi là độ gì. Chắc cũng chỉ nhậu nhẹt và gái. Tôi nghĩ thế.
Bất ngờ lòng thấy vui khi thấy gần đây, đã có những quán cà phê "xịn" với không khí ca nhạc đẹp chất nghệ sĩ, qua Facebook thấy quảng cáo của vài khuôn mặt trẻ rang xay cà phê nguyên chất, đóng bao đẹp đẽ xinh xắn, giống như chủ của nó. Nhưng chắc cũng chỉ cho một số nhỏ những người có tiền.
Hy vọng ngày nào đó, sẽ không còn cà phê "dởm". Hình như quán cà phê ở Tây Ninh và Sài Gòn,có một điểm giống nhau, là họ để nhạc tình ca Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng,Trần Thiện Thanh v,v,v. Không nghe thấy nhạc "dởm".
Tôi vẫn còn hy vọng.
"Một khi ta chọn hy vọng , bất cứ điều gì cũng có thể "
(Christopher Reeves)

Nguyễn Khôi Việt

Sunday, March 5, 2017

                                               
Đến trường

Chào Em ngày hội ngộ


Chào em áo trắng đang vào lớp
chân sáo tung tăng rộn khắp trường
thêm tiếng con chim nào rất lạ
đậu trên cành trúc hát vang vang

thương quá làm sao thời tuổi ngọc
tóc mây vương vãi suốt hồn thơ
nụ cười má lúm càng mê đắm
khiến kẻ tình si luống ngẩn ngơ

chào em áo trắng ngồi trong lớp
tay ấp từng trang giấy học trò
nhưng mắt ô môi như muốn nói
long lanh hờn dỗi rất ngây thơ

làm nhớ một thời quen núp lén
sau lưng nhìn trộm bước chân chim
tơ trời lại ngỡ mùi hương ngọt
ướp mật vào tim ngây ngất them

chào em áo trắng giờ tan học
gót ngọc làm mây vỡ cuối trời
phố nhỏ buồn hiu chợt thức giấc
những hàng phượng cũng vỗ tay vui
Chỉ chút hương xưa
còn sót lại...

chào em áo trắng ngày tao ngộ
sách vở, mộng mơ đã xác xơ
chỉ chút hương xưa còn sót lại
trong hồn thơ chết khóc bơ vơ

chiều nay lạc bước về trường cũ
lớp học hắt hiu dưới nắng vàng
hoa phượng rơi đầy vương trước cổng
trên hàng ghế đá vắng em thương.

Mường Giang.
(Trich thi tập :
Bất chợt bâng khuâng nỗi nhớ nhà.2010. )