Sáng thứ bảy anh
thức dậy như mọi ngày, lơ mơ nhớ những ngày trong tuần vội vã, trong cái không
khí im ắng, thanh thản của buổi sáng cuối tuần, nhưng anh cũng chẳng thể nằm nướng
để vươn mình qua lại lắng nghe chim hót ngoài những hàng cây ven đường, hay lắng
dõi theo những bước chân vui của những con chiên đi lễ ở một nhà thờ gần đó…
Anh vội vàng
tung chăn dậy, đi tắm nhanh kẻo má thức dậy rồi chẳng biết bà mở cửa đi đâu, rồi
sẽ là hớt hơ, hớt hãi chạy đi tìm…má như tìm con thơ đi lạc.
Suốt bốn năm
nay, từ ngày má anh đi sâu vào con đường Alzheimer, những cuối tuần với anh là
những ngày mệt mỏi, căng thẳng. Cứ chiều thứ sáu mọi người trong sở vui mà anh
chẳng thấy vui nỗi, chẳng háo hức gì hai ngày được nghỉ.
Cuối tuần của
anh vẫn là dậy sớm, tắm vội vàng rồi chờ má thức dậy, tắm cho má,
khi anh mặc tả cho má xong, anh mỉm cười rồi vỗ vào mông bà, {tôi liên tưởng
hình ảnh ngày xưa sau khi mặc tả cho con tôi cũng âu yếm vỗ mông con bé như vậy},
bà ngơ ngác chẳng vui, chẳng buồn nhưng mặc quần áo đẹp, thơm tho vào thì bà cũng
cười tươi lắm, rồi nói vu vơ gì đó mà anh nghe chữ được chữ mất chẳng hiểu đầu
đuôi gì… Có những lần bà làm xấu trong tả anh thay tả mà bà đứng không yên, rồi
hai má con loay hoay thế nào bà lấy chân dẫm bẹp lên tả làm văng tung toé ra
sàn nhà… Anh không biết bao lần dỡ khóc dỡ cười, cứ cố nén bực giận vào lòng mà
không thể không phát vào chân bà một cái, {y như cái thuở con bé ngày xưa làm xấu
còn lấy tay quậy lung tung khắp giường, dù cố bình tĩnh tôi cũng không thể nào
không hét lên Trời ơi đất hỡi, và cũng phát cho mấy cái}, rồi lại dọn dẹp, tắm
rửa lau nhà…
Những ngày má
anh mới phát bệnh đôi lúc bà vẫn nhớ điều này điều kia, anh còn chở bà đi chợ
cho bà chọn mua đồ bỏ lên xe, cứ lấy thoải mái ra đến quầy thì anh mới bắt đầu
chọn lại, anh muốn cùng má làm những việc ngày trước đã làm cho bà khỏi mau
quên, nhưng rồi chỉ là thời gian, giờ thì bà không nhớ gì nữa, đôi khi bà buột
miệng hỏi anh: thằng M. đâu rồi, anh thương bà quá chỉ cười: nó đây! Nhưng bà hỏi
chỉ để hỏi, là chút tro tàn ký ức còn lại hay một vùng nhỏ xíu chất xám nào
chưa bị hư hao bật ra thôi chứ bà có thèm nghe trả lời đâu… Vậy mà anh thấy vui
vui trong lòng, má vẫn nhớ thằng con thương của má…
Hai ngày cuối
tuần của anh khi nào tôi gọi hỏi thăm anh làm gì thì cũng là “anh ngồi canh má”,
má không phải đứa con nhỏ để anh có thể vừa canh vừa chơi đùa được với nó, má
là đứa con nít lớn lại rất quậy phá, chỉ cần anh lơ đễnh một chút, hay chăm chú
làm việc trên máy tính một chút mà nghe tiếng sột soạt bên trong chạy vội vào
thì y như rằng một là má anh đã lật cái TV nằm úp xuống hay đang trong bếp lấy
nồi niêu sạch ra rửa hay vào toilet rửa tay trong bồn cầu… Chỉ khi nào anh nghe
má hát cải lương hay nói chuyện một mình trong phòng thì anh yên tâm, khi tiếng
nói ngưng lại thì anh phải lo chạy vào để xem…em bé lớn đang phá tới những thứ
gì rồi.
Những đêm anh
thức giấc nửa chừng anh chạy qua phòng má xem má thế nào và có lẽ đã quen với
những linh tính không hay nên anh không lạ khi vào phòng thấy má anh cỡi hết quần
áo ngồi co ro một góc phòng, ra giường mền gối lôi hết ra vất xuống đất, anh
thương má quá mà cũng không nén được câu than thở: má ơi sao má làm khổ con quá
vậy! Rồi lại mặc quần áo, trãi ra giường, và anh quấn má vào mền như người ta
quấn tả em bé để má khó ngồi dậy, để má nằm yên rồi ngủ quên, anh lại ngồi canh
cho má ngủ rồi mới về phòng…đêm qua trời sáng còn giờ đâu để ngủ?! Bởi vậy có lần
anh nói với tôi anh ngủ trưa mười lăm phút trong xe ở sở làm mà ngon hơn ngủ suốt
đêm ở nhà, vì ở nhà anh có ngủ yên bao giờ… {Điều anh nói có gì khó hiểu với
tôi khi nhớ lại những ngày chăm con thơ bị bịnh, có người mẹ nào có thể ngủ trọn
giấc được, ba bảy phút lại chập chờn thức dậy sờ tay chân con xem nóng lạnh thế
nào.} Anh chăm chút và lo cho má nên dù trời không lạnh mấy vẫn mở máy sưởi kẻo
lúc anh ngủ quên mà má làm vậy thì cũng không đến nỗi cảm lạnh.
Dù thế nào, vất
vả, mệt mỏi anh vẫn không muốn đưa má vào trại nuôi bịnh hay nhà dưỡng lão bởi
anh hiểu ai vào đó rồi cũng rất nhanh chết, đâu đủ người để gần bên chăm sóc từng
ly từng tý như anh. {Tôi nhớ đọc đâu đó có một người hỏi một ông cụ vì sao cứ
hay vào thăm nuôi bà vợ ông đã bị Alzheimer lâu rồi, bà có biết gì nữa đâu, thì
ông đã trả lời rằng bà không biết nhưng ông biết }. Thật cảm động biết bao về
điều đó, về những con người sống hết lòng với tình mẹ cha, chồng vợ, lòng hiếu
thảo không đếm đo được… Họ sống bằng tất cả lòng từ bi như những vị bồ tát.
Cũng có những
ngày tôi nghe giọng anh vui trong điện thoại khi anh nói về món ăn má anh
thích, tôi hỏi sao anh biết má thích, anh nói: biết chứ, má ăn mà cười cười, chỉ
chỉ thức ăn như hối anh đút má nhanh và má nhai miệng nhỏn nhẻn thấy thương lắm!
{Tôi cho rằng đó là câu nói dễ thương nhất của một người con lớn tuổi chăm mẹ
già bịnh, nó cũng dễ thương như những câu nói ngây ngô khi con tôi còn bé mà
đôi khi nhớ lại tôi vẫn mỉm cười một mình}.
Tôi vẫn hằng
mong má anh không quậy phá quá để anh có chút thảnh thơi tâm trí, mong anh đủ sức
khoẻ để lo cho má anh cho trọn lòng hiếu thảo bởi dù sao một ngày nào đó không
còn má anh nữa cũng sẽ là một nỗi hụt hẫng khó phai với anh.
Duy Xuyên
Monday, March 27, 2017
CÒN MỘT CHÚT
GÌ ĐỂ NHỚ / THƠ VŨ HỮU ĐỊNH / NHẠC PHẠM DUY / TRANH MIMOSA - OIL ON
CANVAS - 65X80
Những bài thơ
phổ nhạc thường là những bài thơ hay, vì ít ra nó cũng chạm vào được những sợi
tơ đàn của nhạc sĩ, vốn mang tâm hồn nhạy cảm, để lời thơ thoát chữ thoát trang
giấy mà theo âm thanh bay lên.
Người làm thơ
ấy gọi là phố núi để gợi lên một địa danh cao nguyên heo hút miền biên giới, phố
núi Pleiku có bước chân của Vũ Hữu Định chạm tới đã trở thành thân thương và gần
gũi hơn với chúng ta, một thời. Thời ấy, cả bài thơ lẫn tác giả nếu không có nhạc
Phạm Duy chạm đến, có lẽ cũng chẳng mấy ai biết tới.
Vũ Hữu Định
làm thơ không nhiều, có thể vì không có nhiều dịp phổ biến chăng, để mãi đến
khi anh không còn làm thơ nữa, bạn bè thương tiếc mới gom thơ anh để xuất bản
thành tập. ( Như NT. Nhiên, anh vắn số ở tuổi 40). Trong số những bài thơ ấy,
tôi chép lại bài thơ này:
ĐỨNG GIỮA ĐỒNG
KHÔNG
một bầy sáo
nhỏ qua sông
một em tôi đã
cầm lòng đi xa
như con sông
nhỏ thật thà
sớm hiu hắt tạnh,
chiều sa mưa nguồn
một bầy sáo
đã đi luôn
một em tôi đã
để buồn lại đây
con chim
quyên đã lạc bầy
xuống sông vọc
nước đợi ngày xế ngang
một bầy sáo
nhỏ bay hoang
một em tôi đã
bỏ làng đi xa
tôi ngu ngơ
giữa chiều tà
em đi để lại
mình ta giữa đồng
Tôi biết anh
một lần ghé tòa soạn TN (VHĐ là bạn với nhà thơ PC Sa). Dáng nhỏ, khá bụi bặm,
mang vẻ lãng tử của các tay sinh viên trọ học. Anh ít nói, cả khi nhà văn Nhã
Ca đùa vui : Mắt em ướt, tóc em ướt, cái chi mô em cũng ướt ướt hết, dễ thương
chi lạ.
Cám ơn nhà
thơ VHĐ, đã cho chúng ta biết còn một chút gì để nhớ để quên. Và nhớ với quên
cũng là một chút gì để thương nữa. May mà có anh...
Bài thơ Còn chút gì để nhớ gồm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu, mỗi câu từ 7-8 chữ, mang theo những hình ảnh nhẹ nhàng, tế nhị của phố núi Pleiku, từ cảnh vật:
phố núi cao, phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
Tới con người:
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
nên em hiền như mây chiều trong
Bài thơ được viết năm 1970, khi nhà thơ sang thăm 1 người bạn gái ở Pleiku. Cùng năm này, bài thơ được đăng báo Khởi Hành của Viên Linh và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc, rồi trở nên phổ biến với giọng hát Thái Thanh. Ca khúc được phổ theo nhịp 3/4, điệu Boston, lời thơ vẫn giữ nguyên và với bàn tay điêu luyện của Nhạc sĩ Phạm duy, ta thất trong đó thành phố của sương mù, của em má đỏ môi hồng., của cuộc tình mong manh lạ lùng ..May mà có em đời còn dễ thương..
Sau này nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, bạn thân của ông, cũng có 1 tiểu thuyết lấy tên Còn chút gì để nhớ.
Vũ Hữu Định mất năm 40 tuổi. ( từ Đinh Tiến luyện )
Còn chút gì để nhớ
Thơ: Vũ Hữu Định
Nhạc :Phạm Duy
Ca sĩ : Sĩ Phú.
Wednesday, March 22, 2017
Ngày đó chúng mình Nhạc : Phạm Duy Giọng ca : Duy Trác Duy Trác & Ngày đó chúng mình (Bài viết
của Phan Xuân Sinh)
Vào lúc 8.30
tối ngày 3 tháng 12 năm 2016. Gia đình ca sĩ Duy Trác do các con và cháu của
ông tổ chức một đêm nhạc dành cho vợ chồng ông mà đên hết cuối chương trình,
chúng tôi mới được biết, đêm nhạc kỷ niệm 55 năm ngày cưới của ông bà. Tại
Valentino, 7242 Boon Rd, Houston. Các con của ông không có ai theo nghiệp cầm
ca của bố, nhưng từ giọng hát đến cung cách trình diễn chúng ta có được một cảm
nhận thuộc con nhà nòi và hơn nữa đây là đêm dành cho bố mẹ nên các con cháu của
ông hết lòng với ông bà, cho ta thưởng ngoạn một đêm rất đặc sắc thú vị.
Nói đến Duy
Trác có nhiều bài vở trên sách báo trước đây nói về ông, ông là một ca sĩ đã
thành danh từ thập niên 50 đên thập niên 75 tại Sài Gòn. Nhưng con đường ca hát
của ông có vẻ tài tử, ông ít xuất hiện trên sân khấu nên nhà văn Duyên Anh khi
đề cập tới ông bằng thốt lên “ca sĩ cấm cung”. Ông là một luật sư, là một thẩm
phán. Có lẽ nghề nghiệp nầy đã nắm chặt chân ông lại, không cho ông xuất hiện
những nơi đô hội để cho người khác mua vui. Tuy nhiên tiếng hát của ông đã phá
vỡ bức tường, xuyên thấu vào lòng những người yêu nhạc khó tính, ông là một ca
sĩ hiếm hoi để lại trong lòng người nghe một sự kính phục từ giọng hát đến nhân
cách. Ông là một người hiền hòa, dễ mến khi ta được tiếp xúc. Ông đã giã từ
nghiệp ca hát hơn mười mấy năm nay với một lý do đơn giản “tuổi già”. Khi đã từ
giã thì ông khép kín dủ những người thân thích trong gia đình yêu cầu , ông vẫn
không hát. Có lẽ nghành luật đã dạy cho ông một nguyên tắc không được vi phạm
điều mà đã trở thành quy luật khi ông đã đặt ra.
Hơn mười năm
trong tù cải tạo, đã khiến con người của ông trầm ngâm hơn. Và cũng chính nơi
đây đã cướp mất của ông sức lực và hăng say. Khiến ông không còn tha thiết với
những gì mà thời trai trẻ cuốn hút ông. Thời gian sinh sống tại Hoa Kỳ ông làm
Đài Phát Thanh và nơi đây ông đem kiến thức và nghệ sĩ tính của mình, lôi cuốn
một số lớn thính giả lắng nghe, đến khi các con của ông trưởng thành, ông cũng
từ giả hẵn Đài Phát Thanh. Khi tôi đến Houston sinh sống, được anh chủ nhiệm tờ
nguyệt san Văn Hóa mời riêng tôi và ông đi uống cà phê. Đây là lần đầu tiên tôi
gặp ca sĩ Duy Trác. Ông ít nói và chỉ nói khi cần thiết, tôi thấy ông ngồi suy
tư, tôi hỏi ông nghĩ gì? Ông nói với tôi là tên của anh thấy quen lắm, nhưng
không biết gặp ở đâu? Tôi chỉ cười chắc ông lẫn lộn với ai đó. Hai tuần lễ sau
ông gọi điện thoại cho tôi, ông báo cho tôi biết ông đã nhận ra tôi rồi. Tôi là
tác giả ông đã đọc truyện trên đài phát thanh. Rồi ông mang cho tôi những CD mà
ông đã đọc. Từ đó tôi rất thân tình với ông.
Nói về ông
không hết được. Ông là con người của quần chúng được thính giả trọng vọng, nên
chiều sâu của đời ông khá dài và mọi người trân quí. Tôi xin chấm dứt những
dòng chữ nói về ông để trở lại với “đêm nhạc với gia đình Duy Trác”. Trong Thư
Mời có ghi 4 câu thơ:
“Anh nhỉ
đôi ta không trẻ nữa
Mắt thôi
trong và tóc hết xanh
Nhưng trái
tim ta còn thơm mãi
Hương vị
cuộc tình em với anh”
Không đề tên
tác giả 4 câu thơ nầy, nhưng nội dung chúng ta nhận được hình như bà viết cho
ông. 55 năm sống với nhau. Tình nghĩa ấy đã thấm đẫm trong thịt da, trong máu
huyết. Các con của ông bà muốn ca tụng tình nghĩa của ông bà bằng một đêm âm nhạc,
để bố mẹ đọc được tấm lòng của các con. Quả thật các con của ông bà đã làm được
một điều rất ý nghĩa và cũng rất ngoạn mục. Những người ngồi nghe chật ních hội
trường từ đầu chương trình đến cuối chương trình, gần 1 giờ sáng mới chấm dứt.
Tôi cũng không biết thế nào để diễn tả được đêm nhạc như thế nầy. Nó mang vóc
dáng rất trí thức, những nhạc phẩm được chọn lọc kỹ càng. Các con của ông bà thể
hiện một phong cách biểu diễn thỏi mái nên được thính giả thích thú.
Người điều
khiển chương trình là thi sĩ Ngu Yên, rất duyên dáng trong vai trò của mình, cuốn
hút thính giả bằng lối ăn nói đượm chút hài hước thâm thúy, sâu sắt. Trong
chương trình đặc biệt có những cô cháu gái của ông (thế hệ thứ 3) vừa ôm đàn vừa
hát, tạo nên một đêm nhạc dành cho ông bà một sự kinh ngạc của thính giả, thành
công ngoài suy nghĩ của mọi người.
Sau khi nghỉ
giải lao, đêm nhạc được tiếp nối bởi những ca sĩ thân hữu của gia đình. Những
khuôn mặt mới lạ, những giọng ca chúng ta chưa từng nghe, nhưng chúng tôi phải
công nhận rằng những ca sĩ nầy góp một bàn tay tạo nên đêm nhạc thêm phần mới lạ,
bởi những giọng ca rất trưởng thành và hào hứng. Đêm nhạc chấm dứt lúc 1 giờ
sáng ./
Phan Xuân
Sinh ( viết từ Houston )
Duy Trác và hiền thê.
Friday, March 17, 2017
Ảnh (Khôi Việt)
Câu chuyện của hai người lính già
Từ bãi đậu xe
đến chỗ làm việc, tôi vẫn thường đi ngang quán rượu đó. Buổi sáng sớm, quán
chưa mở cửa, chỉ có Bob, đứng xịt nước tưới cho mấy chậu hoa treo lủng lẳng
quanh patio. Lão già này làm việc ở đây từ lúc còn là thanh niên, bây giờ lưng
đã hơi còng, tóc đã bạc, nhưng hàm răng hơi to một cách quá khổ trên khuôn mặt,
vẫn còn trắng đẹp một cách kỳ lạ . Lão luôn chào trước khi tôi kịp mở lời: hey,
young man. What's up? Not much, how's yourself, old man? Good, can't complain,
young man. Ngày nào cũng nói với nhau y như vậy. Nhưng sau đó tôi phải nói dăm
ba câu rồi chuồn lẹ. Nếu không Bob sẽ nói đủ thứ chuyện trên đời tưởng như
không bao giờ dứt. Hình như người Mỹ già nào cũng thích nói chuyện và nói nhiều
thì phải.
-Chiều mày đi
làm về ghé qua. Boss mới mướn ban nhạc chơi ở đây.
- Hay không?
- Không tệ lắm,
có cô ca sĩ hát rất hay . Ba giờ chiều là tụi nó bắt đầu.
- Vậy sao?
Chiều tôi ghé. Một chút thôi, cả ngày đi làm mệt tôi chỉ muốn về nhà.
Nói thế chứ
tôi quên ngay, tôi không mặn mà với nhạc Mỹ bây giờ. Rap tôi không ưa nổi. Còn
nhạc của tụi trẻ Mỹ bây giờ khó nghe quá. Hay tôi là người Việt, lại thuộc lớp
già nên không cảm được chăng? Cũng không hẳn như vậy, nhạc Mỹ của năm 60 vẫn
còn theo tôi đến giờ mà. Có lẽ tôi chỉ thích hợp với soft rock. Mà chung quanh
chỗ tôi làm, quán rượu, quán nhạc toàn chơi hard, metal rock. Đi ngang qua nghe
thoáng cũng đủ nhức đầu rồi.
Dọc theo đường,
gần đó khoảng trăm thước là quán nhạc Jazz tên Preservation Hall. Nơi thường
quy tụ những nghệ sĩ nhạc Jazz thuộc loại bậc nhất của Mỹ, dù bên ngoài nhìn
nghèo nàn cũ kỹ. Louis Armstrong lúc còn sống nghe nói cũng chơi ở đây. Quán
này nổi tiếng với giai thoại mặt tiền không được lau chùi đã 75 năm, khác với
những quán bar có nhạc sống ở New Orleans là luôn mở hết các cửa. Preservation
Hall cửa luôn đóng kín.
Quán rượu Bob
đang làm cũng là một quán nhạc Jazz. Tôi mỗi lần nghe Jazz là buồn ngủ không chịu
được. Tất nhiên là nhạc Jazz hay lắm chứ, nhưng nó có vẻ không hợp với cái tai
tôi mấy. Mỗi khi đi đâu xa ngoài tiểu bang với con trai, Khôi, là tôi bị tra tấn
với kho nhạc Jazz trong xe của nó. Đặc biệt là cô ca sĩ Nora Jones với giọng
hát trầm buồn nhừa nhựa làm hai mắt tôi muốn mở không lên.
Buổi chiều bước
vội vã ra chỗ đậu xe, đã khiến tôi chẳng chút hào hứng nào ghé chơi, nếu tiếng
hát và âm điệu bản nhạc quen thuộc không kéo chân tôi lại.
Cô ngồi hát cạnh
cây đàn piano trong góc cuối của quán, bên phải người nhạc công. Áo trắng và
váy dài đen.
Tôi đứng sững
nơi cửa quán nhìn vào. Cô đang hát bản nhạc kỷ niệm vô cùng quen thuộc của tôi.
Both sides now. Judy Collins hát- Mà ngày xưa tôi cùng chiếc radio nhỏ đợi chờ
nghe mỗi tối trong chương trình nhạc của Chris Noel, dành cho quân đội Mỹ tại
Việt Nam.
Cô vẫn hát,
và nhẹ đưa tay chào. Chắc cô cũng hơi ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông Việt
Nam đứng nghe cô hát như vậy. Nhưng trong ánh mắt cô, tôi thấy lấp lánh niềm
vui.
Sau đó chúng
tôi quen nhau. Vì nơi tôi làm việc là một nhà hàng cách chỗ của cô không xa lắm.
Cô hay ghé qua ăn tối. Julie. Tên của cô.
-Chắc tôi hát
không tệ lắm. Phải không? Hôm ấy tôi thấy ông sững lại khi nghe tôi hát.
-Nhiều lý do
lắm Julie. Bài này gợi lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Nó là một Top Hit của năm
67. Và tất nhiên, giọng của em rất hay và truyền cảm, chẳng kém gì Judy
Collins. Còn đẹp thì chắc chắn em đẹp hơn bà ta bây giờ rồi.
Cô cười. Và
tôi, ngay lúc đó tôi nhận ra một điều, đàn bà Mỹ thường có gò má cao, miệng hơi
rộng, nhưng tạo cho họ một khuôn mặt đặc biệt, và cười rất có duyên.
- Nói cho tôi
nghe Vivi. Cô gọi tôi là Vivi, có lẽ để cho dễ gọi. Một bài hát mà theo đuổi
ông mấy chục năm, vậy chắc toàn những kỷ niệm đẹp?
- Tất nhiên
là nhiều, nhưng không hẳn là những kỷ niệm đẹp. Tôi còn đi học, chưa có mối
tình nào để nhớ. Nhưng qua năm 68 thì tôi hay nghe bài hát ấy lúc nằm dưới hầm
trú ẩn. Bọn Việt cộng mở ra chiến tranh khắp nơi. Miền Nam chúng tôi sống rất
thanh bình, nhưng họ có mặt chỗ nào là có tang thương chết chóc chỗ đó ngay. Sự
sống và cái chết chỉ cách nhau trong tích tắc. Như năm đó, tôi chở cô cháu gái
ngoan hiền dễ thương như thiên thần của tôi đi chơi, ăn kem. Chở cháu về nhà,
cách Sài Gòn vài dặm thôi. Mấy ngày sau tới thăm, chỉ còn là đống gạch vụn ngổn
ngang. Tưởng như cháu và gia đình chưa từng hiện diện nơi đó.
-Sao khủng
khiếp vậy ông, điều gì đã xẩy ra?
- Một trái hoả
tiễn 122 ly đã rớt xuống. Tôi vẫn hy vọng cháu và gia đình trước khi chết không
cảm thấy đau đớn. Miền Nam chúng tôi ngày đó là như vậy. Trẻ em đang ngồi học
trong lớp bỗng dưng chết thảm khốc vì những trái đạn súng cối của họ bắn vào. Tất
nhiên là họ bắn có chủ ý. Gây kinh hoàng, chết chóc để trấn áp người dân. Giống
hệt như những đám khủng bố ở Trung Đông bây giờ.
- Nghe như
ông nói, có cảm tưởng miền Nam của ông sống trong kinh hoàng và khó khăn lắm.
- Không hoàn
toàn vậy đâu em. Cuộc sống hồi ấy thật đẹp đẽ và thanh bình nếu không có Cộng sản.
Một lần ghé qua tôi thấy em hát Summertime, ngày xưa tôi cũng rất thích bài hát
đó. Summertime. When the living is easy... Em ạ. Miền Nam chúng tôi không có bốn
mùa như Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ có mùa Hè. Nóng gần như quanh năm. Nhưng vẫn có
những cơn gió mát và mưa lạnh. Tăng thêm thi vị cho Summertime. Hình ảnh mà em
thấy trong bài hát Summertime đó chính là hình ảnh của quê hương chúng tôi. Tôm
cá đầy sông, cây trái trĩu ngọt, lúa bắp bát ngát. Mùa Hè của chúng tôi có đầy
trong rất nhiều tác phẩm thi ca miền Nam. Nhưng sau khi tôi gia nhập quân đội,
bọn Cộng sản đã mang vào miền Nam chiến tranh ngập trời. Mùa Hè đỏ lửa. The
fiery Summer. Đó là tên gọi của báo chí đã đặt cho cuộc chiến năm 1972.
- Ba của tôi
trở về Mỹ năm 73 cùng với cả đơn vị của ông. Được đón tiếp như những kẻ ăn cướp
và baby killer. Đó là một thành công lớn của bọn leftist và hippies. Tôi ra đời
sau này, chỉ nghe mẹ tôi kể lại những sỉ nhục mà người lính Mỹ phải chịu khi trở
về nước.
- Xin Chúa
phù hộ cho ba của em. Tôi nói. Còn chúng tôi, những người sĩ quan của Rebubplic
of Việt Nam. Không được may mắn như ba của em. Chúng đưa chúng tôi vào những trại
tập trung sâu trong rừng thẳm. Rất nhiều người đã chết vì thiếu ăn, vì đói lạnh
trong giá rét kinh hoàng ở miền Bắc. Trở về nhà với tấm thân tàn tạ. Bao nhiêu
người đã mất hết vợ con, nhà cửa. Vì khi họ còn ở trong trại tập trung, vợ con
họ trốn chạy Cộng Sản và vùi thây trên biển cả trong những chiếc thuyền mỏng
manh chỉ dài chừng 20 đến 30 feet.
Ba của em khi
trở về nhà vẫn còn gia đình, nước Mỹ vẫn đứng sau lưng. Còn chúng tôi, khi ra
khỏi tù đã không còn Tổ Quốc.
Tôi đã gặp
Daigle. Ba của cô. Ông đã không còn khoẻ nữa. Căn bệnh PTSD (post trauma stress
disorder) đã biến ông từ một Navy Seal đẹp trai cao lớn trở thành một ông già
còm cõi không còn sức sống. Chúng nó đã phản bội tao, phản bội chúng mày. Bọn
phản chiến đó. Chúng chặn ở phi trường, la hét, chửi bới phun nước miếng vào
chúng tao. Còn chúng mày thì đi tù. Vì nước Mỹ đã bỏ rơi Đồng Minh. Mỗi lần gặp
tôi, Daigle ngồi nói miên man không dứt.
- Chuyện qua
rồi. Đừng trách mình như vậy. Cá nhân tôi chẳng bận tâm về điều đó. Sinh ra
trong một đất nước giàu có tươi đẹp,không ai muốn chết nơi một xứ sở chẳng liên
quan gì với mình. Chẳng ai muốn con cái mình hy sinh như vậy cả, Daigle. Con
tôi gia nhập Thủy Quân Lục Chiến vì nó thích, nhưng tôi chẳng bao giờ thích được.
Nó đi lính mà tôi ở nhà bị bệnh mất ngủ vì lo lắng. Tôi vẫn biết ơn những người
lính trẻ qua chiến đấu ở nước tôi. Kể cả ông nữa.
-Mày biết
không? Mấy thằng cựu chiến binh thường khoe khoang về những ngày ở Việt Nam như
một cái gì ghê gớm lắm. Nhưng cá nhân tao lại thấy những thằng lính Việt Nam tụi
mày đáng nể hơn. Tụi tao cái gì cũng có,cần gì thì vào PX mua. Thanksgiving,
Christmas có quà gửi qua. Có cả Fried Turkey, cake, bất cứ cái gì chúng tao cần.
Còn tụi mày, có lần tao chạy xe Jeep trên đường thấy đám bộ binh tụi mày ngồi
ăn với bịch gạo sấy và một con cá khô. Lính Việt Nam tụi mày sống thiếu thốn cực
khổ quá. Daigle nói chữ "gạo sấy với cá khô" rất đúng giọng. Làm tôi
không nhịn được cười. Đặc biệt, Daigle nói hai chữ " Đủ má" hệt như
người Việt Nam.
- Làm sao ông
nhớ mấy chữ đó. Ông làm tôi muốn chết vì cười.
-Tao nhớ chứ,
nhiều lắm. Hồi đó đi công tác với lính Việt Nam tụi mày rất nhiều lần. Có khi ở
chung trại cả mấy tháng. Nhưng lính Việt Nam toàn dậy tụi tao những chữ tục
tĩu. Này, tao nói rất nghiêm chỉnh nhé. Nếu chúng tao dậy tiếng Anh cho người
Việt, chúng tao luôn chỉ dẫn những gì chính xác và cần thiết nhất. Còn người Việt
mày toàn nói bậy bạ. Có lần tao hỏi: I love you, nói làm sao. Nó dậy rằng: đù
má tao. Tất nhiên tao chẳng vui vẻ gì, sau khi nói với một cô gái tao quen, cô ấy
tưởng tao bị điên.
Daigle là một
người nhận xét rất tinh tế và khiêm tốn. Ông không có thái độ ngạo mạn, đôi khi
kỳ thị xấc xược như nhiều tay cựu chiến binh Mỹ tôi đã gặp.
-Ông rất mẫn
cảm và hiểu biết, nhất là ông không gọi tên nước tôi kiểu coi thường như nhiều
người Mỹ thường gọi là "Nam", thay vì nói Việt Nam. Đẹp trai và nói
chuyện lôi cuốn như ông chắc hồi xưa ở Việt Nam thế nào cũng có vài cô bạn?
-Ba tôi nói
ông có bạn gái lúc ở Việt Nam. Cũng còn giữ hình của cô ta đến sau này. Julie
nói. Cô gần như ít xen vào câu chuyện. Cô thường ngồi tư lự với ly Margarita.
-Mẹ của cô có
ý kiến gì không?
- Ồ không. Bà
nói. Đó là những kỷ niệm đẹp. Và cô gái đó thật là đáng yêu.
Daigle cho
tôi coi hình một người con gái ông quen, và yêu. Đó là một cô gái đẹp, dường
như là nữ sinh trung học trong chiếc áo dài.
- Cô ấy có
yêu ông không?
- Có chứ. Còn
tao yêu cô ấy đến chết đi được.
- Tại sao
không lấy nhau?
-Này Vivi. Lấy
được người Việt tụi mày không phải dễ. Ngay cả bước chân qua cửa nhà cô ấy cũng
còn chưa được, huống hồ xin cưới..Ngày xuống sân bay, gặp gia đình, tao buồn và
khóc. Nói mày đừng cười. Không phải khóc vì mừng gặp gia đình. Vì tao nhớ cô ấy
thì đúng hơn.
-Đúng vậy
Daigle. Ngày xưa đất nước tôi mặc dù chiến tranh nhưng sống thoải mái và gắn bó
với quê hương. Chẳng ai muốn rời bỏ đất nước cả. Và sự bất đồng ngôn ngữ đã khiến
bức tường thành kiến đã cao lại còn cao hơn.
-Chị con ông
bác của tôi, làm ở bộ Y tế, gặp một ông bác sĩ Quân Y Mỹ, rồi yêu nhau. Nhưng
gia đình chị không cho bất cứ ai trong họ hàng biết, ngoại trừ tôi, ngày chị
lên máy bay về Mỹ với chồng năm 74 cũng không ai biết. Âm thầm. Tôi mất liên lạc
với chị từ dạo ấy. Ngày xưa, tình yêu quê hương đã trở thành cực đoan, tới mức
trong gia đình không ai muốn con cái của họ lấy người ngoại quốc. Vì ai cũng
nghĩ, con cái theo chồng, hoặc theo vợ người ngoại quốc là vĩnh viễn sẽ mất
con. Trong mắt của người thiếu nữ Việt Nam, khuôn mặt của người Mỹ thật là xa lạ.
Cho nên tôi nghĩ, phải yêu nhau ghê lắm mới dứt bỏ cha mẹ anh em, theo chồng về
Mỹ, một nơi chốn hoàn toàn khác biệt với quê hương.
Người Mỹ còn
phải khó khăn khi muốn lấy vợ Việt Nam như vậy; những chủng tộc khác còn khó
hơn.
Gì chứ lính Phi Luật Tân,Thái Lan, Đại Hàn (bây giờ là Hàn Quốc) con gái
Việt Nam chẳng để vào mắt đâu. Ngày xưa con gái và dân Việt nói chung, nhìn mấy
đám đó như mấy thằng ngốc và nhà quê. Lính Đại Hàn khi trở về nước, họ cũng mua
xe đạp của Việt Nam, radio, đồng hồ, đủ thứ trên đời .Còn bây giờ, người dân
làm đủ mọi cách để chạy ra khỏi nước, kết hôn với bất cứ một dân tộc nào để
thoát đi. Kết hôn với một người Đại Hàn, sánh vai với một người Mỹ là điều
mơ ước, là điều hãnh diện của đa số, nếu không nói là hầu hết người Việt Nam hiện
nay. Vậy cũng được, nhưng những người đến từ những quốc gia một thời người Việt
coi là dân tộc hạ đẳng thấp kém, nếu không nói là mọi rợ, cũng được gọi chung
là "Tây"thì đó là điều quá đáng. Chữ "Tây" ngày xưa chỉ
dùng cho người Pháp. Bây giờ mấy thằng đen thui Kenya, Nigeria chạy qua Việt
Nam làm phu khuân vác, ăn cắp ăn trộm cũng gọi là "Tây". Chưa bao giờ
giá trị của người Việt Nam lại bị hạ thấp như bây giờ.
- Tất nhiên
tôi không khinh miệt tất cả. Nhưng ông có đồng ý là tới giờ dân của mấy quốc
gia đó còn đi săn thú bằng dáo mác, còn đóng khố, thì tất nhiên không thể so
sánh với dân tộc tôi được.
-Tao hiểu chứ.
Hồi ở Việt Nam tụi tao thường đi nghỉ phép ở Taipei, hoặc Bangkok. Nhưng mấy chỗ
đó thua xa Sài Gòn và Đà Nẵng. Nhất là Bangkok, không thể hơn Sài Gòn được. Chỉ
hơn cái khoản gái điếm.
-Này Daigle.
Năm 60 chúng tôi đã làm được xe hơi rồi. Tất nhiên không thể bằng Ford, GMC.
Nhưng ông biết không. Khi Sài Gòn chúng tôi xe cộ dập dìu, nam thanh nữ tú chở
nhau trên những chiếc Vespa, Lambretta. Thì Seoul của Korea lúc ấy còn là đám
ruộng, dân chúng còn trồng rau ở đó. Đồ hộp Mỹ hồi đó tụi tôi còn chê, vì không
hợp khẩu vị. Đồ hộp Đại Hàn hả? Chẳng người Việt nào ăn đồ hộp của Đại Hàn cả
vì nó quá dở, cho dù họ cũng có đồ hộp thịt heo với đậu hũ, có cả Kim Chi nữa.
Nhưng tôi cũng quăng nó vào thùng rác. Vì sao có thể ăn được, khi thường ngày
tôi vẫn ăn thịt heo kho với tôm càng, với nước dừa thơm ngon béo ngậy.
Những ngày gặp
Daigle là những ngày nói chuyện dứt không ra, cho đến lúc Julie tới đón sau khi
hát xong tại quán. Cô rất vui khi thấy ba của cô có người tâm sự.
-Vivi biết
không. Bạn cùng team của ba chết hết rồi, ba tôi mến ông vì là người cũng ở những
địa danh mà ngày xưa ba tôi đã tới. Và cũng là lính.
-Còn ba của
em cũng là người dễ mến và khiêm tốn nhất mà tôi đã gặp.
Hơn tháng trời
bặt không thấy Daigle ghé chơi. Một hôm Julie bước vào đưa cho tôi một khung
hình nhỏ. Bên trong là huy hiệu của Seal Team One. Mặt sau có mấy chữ " To
my brother in Arms. Dwright Daigle".
- Ba tôi đã mất
hai tuần trước. Bị colon cancer lâu rồi. Nói tôi mang cái này cho ông. Ba tôi
không muốn ông biết, không muốn ông buồn vì mất bạn.
-Ít nhất ra
cũng cho tôi biết đôi chút. Mẹ cô giờ ra sao. Bà vẫn OK chứ.
-Vivi này. Ba
tôi dấu không cho Vivi biết. Mẹ tôi đã bỏ hai cha con tôi lúc biết ông bị colon
cancer.
Thấy tôi ngồi
yên không nói vì xúc động. Cô đập nhẹ vào vai tôi.
-Vivi. Chiều
nay về nhớ ghé quán. Em sẽ hát tặng ông bài Both sides now.
Sau đó vài tuần không thấy Julie hát bên quán. Hỏi thăm lão Bob cũng lắc đầu không biết.Cô ấy đã đi rồi. That bird had flown. Lão nói. ( Nguyễn Khôi Việt )
Both sides now-Judy Collins
Sunday, March 12, 2017
( Khung cửa ) ảnh của bạn
Đêm. Nhớ núi.
Buồn. Như cỏ cây rầu rầu hiên vắng
Như tuổi già gõ cửa gọi tên
Như chuyến tầu đêm, sân khuya vắng khách
Như ráng chiều ôm núi chênh vênh
Không ai ngoài kia, bên đời ngóng đợi
Núi than thầm , khóc tiếng bi ai
Thả nỗi buồn theo trời lồng lộng
Ngày cũng tàn cuộc, mỗi sớm mai.
Đêm mông lung.Chạnh lòng trăng ngó
Dửng dưng đùa mấy hạt sương đêm
Đậu khốn cùng nghe chừng tuyệt vọng
Ta và đêm. Đêm hóa thân mềm
Ta tập tễnh một ngày xuống núi
Thèm khúc Tiêu Dao “ Tiếu ngạo giang hồ”
Rượu mềm môi uống tình bằng hữu
Tuyệt tình ca hóa kẻ hồ đồ
Nhặt mảnh trăng. Đêm nằm nhớ núi
Mơ chuyện vá trời mơ vá viễn vông
Túi càn khôn nhốt tình rồ dại
Ta mang tình gối cõi thinh không
Nhưng đã quá già, chân chồn, gối mỏi
Thôi em đừng về, đừng vọng động nhau
Ai chẳng một lần qua cầu sinh tử
Giọt nước mắt thừa dành tặng ngươì sau
Nếu có lần nào, hụt chân vấp ngã
Hãy hái hạt buồn trên đám cỏ cây
Hãy nghe còi tầu nửa khuya vắng khách
Sẽ thấy đời trôi qua những nắm tay
Sẽ khóc một lần-một lần- lần nữa.
Tiếc hạnh phúc gầy không giữ được nhau
Sông núi không kề kêu trời quạnh quẽ
Lả tả hồ như một giấc chiêm bao. Nt.
Tuesday, March 7, 2017
ảnh : Khôi Việt
Lan man chuyện cà phê..
Ngày xưa, gần
nhà hàng Thanh Bạch trên đường Lê Lợi. Có một tiệm với bảng hiệu nhỏ nhưng rất
nổi tiếng: cà phê J. Martin. Họ bán cà phê hột đã rang sẵn, và chỉ xay khi
khách đến mua. Chắc là của người Pháp để lại, vì hồi năm 60 những cơ sở thương
mại có tên Pháp đều của người Pháp. Tôi nghĩ thế. Bố tôi hay ghé qua mua một hoặc
hai lạng cà phê. Tôi vẫn nhớ đó là một người phụ nữ trung niên. Bà múc cà phê hột
đã rang màu nâu bóng, thơm phức trong một cái bình tròn và cân, xay cà phê trước
mặt khách hàng bằng cái cân bàn mặt kiếng, có cái kim chỉ sức nặng dài gần hai
gang tay. Hình như cà phê được rang mỗi ngày nên rất ngon. Vì khi đi ngang tiệm,
lúc nào cũng nghe mùi thơm cà phê bay thơm ngào ngạt. Thỉnh thoảng bố tôi cho
tôi uống cà phê với ông, cho dù mẹ hay cằn nhằn: nó còn trẻ uống cà phê mất ngủ
không tốt.
Tôi thích cà phê, và lớn lên, ghiền cà phê từ hồi đó. Tôi thích cái không khí của
sáng sớm tinh mơ, tại các quán cà phê bình dân đầu ngõ, hoặc bên đường, lúc còn
đang chong đèn. Các ông già trong bộ đồ bà ba trắng, hoặc đen, hoặc quần xà lỏn,
ngồi kiểu nước lụt trên những băng ghế. Đa số các quán bình dân đều dùng băng
ghế và bàn dài. Các ngài đều có chung một thói quen là đổ cà phê ra cái dĩa nhỏ
đựng ly cà phê rồi húp xì xụp. Tại cà phê nóng. Nhưng riết rồi đó là thói quen
rất phổ biến và đặc biệt của miền Nam. Cà phê pha bằng một túi vải nhỏ được kêu
cà phê vớ. Có nơi gọi là cà phê kho. Có lẽ cái "vớ" lọc cà phê đó thường
đi chung với cái siêu bằng đất mà người miền Nam dùng để sắc thuốc Bắc, lúc nào
cũng đặt trên lửa than riu riu cho nóng. Cà phê pha bằng filtre uống nguội ngắt,
mặc dù hương vị có thể thơm hơn. Cà phê "kho" có thể không ngon bằng
pha filtre vì cà phê đều có pha số lượng lớn cà phê Mít, tên khoa học là
Robusta, loại cà phê cho sản lượng cao, uống hơi chua, để giá thành rẻ, hợp với
số đông khách bình dân, nhưng qua cách "kho" cà phê có mùi rất đặc biệt,
và uống thật nóng,đến nỗi khi vào quân đội rồi, tôi vẫn có cái thú đi ra những
quán cà phê "vớ" trong làng xóm gần nơi đóng quân. Còn tối trời,
nhưng đã nghe nói chuyện râm ran, mùi cà phê thơm tỉnh người. Cũng ngồi kiểu nước
lụt, đổ cà phê ra dĩa uống, mấy ông bà già lúc đầu lạ lẫm còn liếc xéo, sau vài
lần ai cũng muốn gả con gái.
Ngoài những quán bình dân, còn những quán cà phê nhạc. Những quán này đều có
tên như Hương Xưa, Làng Văn, Hầm Gió, v,v. Nơi đây là chỗ hẹn hò, hoặc ngồi giết
thì giờ, hoặc gậm nhấm "Nỗi buồn thân phận" trước chiến tranh. Chỗ ngồi
êm ái lịch sự hơn. Khung cảnh đẹp đẽ hơn. Và giá cả chắc chắn cũng đắt hơn.
Và tất cả các quán bình dân hay "quý tộc" của miền Nam hồi đó (từ miền
Trung trở vào) đều giống nhau là không có cà phê độn như bây giờ.
Cà phê độn là gì? Đó là loại cà phê được trộn thêm vào đó bắp, đậu phộng, đậu
nành. Bất cứ loại đậu gì, cốt để giảm thiểu số lượng cà phê thật sự hầu mang lại
tiền lời gấp nhiều lần cho người làm ra nó, bán nó. Và số lượng chất độn đó gia
tăng nhiều đến nỗi mới đây, có nhiều nơi sản xuất cà phê, nhưng trong đó hoàn
toàn không có chút cà phê nào. Chỉ có đậu, phẩm màu công nghiệp và chất tạo mùi
cà phê. Tức là khi uống cái chất đen kịt như vậy, chúng ta đã đưa vào trong cơ
thể chúng ta một số lượng chất độc đáng kể. Mấy chi tiết này chúng ta đọc nhan
nhản nơi báo điện tử trong nước bây giờ.
Cần nói thêm một chút, trước 75 không biết đến chữ "độn" và cũng
không có cà phê độn bắp. Chỉ có cà phê ngon, hoặc dở, do cách rang xay mà thôi.
Mấy năm trước khi về thăm nhà. Tôi mang theo mấy bịch cà phê Starbucks vì không
muốn phải đi uống thứ cà phê đáng sợ đó. Đồng thời cũng muốn cho mấy cậu em biết
mùi vị cà phê Mỹ ra sao. Cà phê Mỹ giờ uống rất ngon, có lẽ họ không trộn nhiều
cà phê Robusta trong sản phẩm của họ như trước. Starbucks chỉ dùng Arabica nên
cà phê uống dịu và ngon.
Pha cà phê uống xong, không thấy cậu em nào nói tiếng khen ngon dở gì cả.
Mấy hôm sau hỏi cậu em, cà phê uống ngon không em?
Cậu trả lời uống cũng được!
Lúc ấy tôi hơi bất ngờ. Vì biết chắc đám em út quê nhà chỉ uống có cà phê độn bắp,
đậu nành, hoặc có quỷ mới biết có gì trong đó.
Như vậy là cà phê của tôi dở. Tôi đã uống cà phê từ lúc chú còn nhỏ xíu! Không
lẽ vị giác của tôi có vấn đề sai lạc? Chắc chắn không phải vậy.
Hôm sau mấy cậu em rủ đi uống cà phê. Phải nhìn nhận những quán cà phê ở Việt
Nam tôi đã tới đều rất đẹp, trang trí công phu tráng lệ, nói theo ngôn ngữ bây
giờ là "hoành tráng". Quán này cũng vậy. Là một căn nhà cổ với những
cột gỗ lên nước đen bóng. Trong một khu vườn đẹp đẽ rất nên thơ. Có hòn non bộ
và một hồ cá quá chừng đẹp.
Tôi gọi cà phê đen. Tôi chỉ uống đen từ khi biết nó. Cà phê màu đen một cách
khác thường. Cũng nhắp thử một chút. Nó hơi có mùi cà phê, nhưng không có
"vị" mà tôi quen thuộc bao năm nay.
Các cậu em uống cà phê vui vẻ thoải mái. Ly nào cũng uống cạn. Tôi nhắp một
chút và không uống nổi. Chắc anh không quen uống cà phê Việt Nam?
-Cà phê pha đậm quá, anh quen uống hơi lợt một chút. Nhưng cà phê ở đây uống
nghe "độn" rõ ràng, khó uống quá. Tôi nói.
Mấy cậu em cười xoà như thông cảm cho ông anh khó tính. Tụi em quen uống thứ cà
phê này. Cà phê anh mang về uống lạt nhách!
Về lại Sài Gòn. Một người bạn lính cùng đơn vị ngày xưa dẫn tới một quán cà phê
cũng yên tĩnh và đẹp như mơ. Quán Tre, Trúc gì đó không nhớ nữa. Già rồi hay
sao mà chuyện gì cũng nhớ mài mại.
Kêu ly cà phê đá. Cũng cố nhưng không uống được bao nhiêu. Bạn hỏi: cà phê ở
đây ngon có tiếng đó ông. Ông ở Mỹ lâu rồi nên không uống cà phê Việt Nam hả?
Tôi cười không trả lời. Mà cũng không biết nói sao. Cũng như các em tôi. Bạn của
tôi đã quen ngồi trầm ngâm với những ly cà phê đen đặc quánh được làm bởi những
nguyên liệu không hề biết xuất xứ ra sao. Nhưng họ vẫn thấy thơm ngon. Trong
khi tôi nhìn thấy, cảm thấy đó không phải cà phê thuần tuý thì không nói ra được.
Họ vẫn ngồi. Vui vẻ hân hoan bên nhau, phì phèo thuốc lá. Bên cạnh ly cà phê chứa
đầy những chất đáng ngờ. Có thể họ cũng biết điều đó. Nhưng cũng vẫn uống.
Còn những người khác, không chấp nhận cà phê "dởm" sẽ trở thành cô
đơn khi kiếm cho mình một chỗ nào đó chỉ có cà phê "thật".
Có vẻ như sống lâu trong một môi trường nào. Con người trở thành thân quen với
nó. Như đa số người uống cà phê biết nó đầy bắp. Thay vì cùng nhau tẩy chay những
chỗ làm ra loại cà phê đó. Đi kiếm chỗ tốt để uống. Thì họ e ngại tốn tiền tốn
sức. Và sợ rằng uống cà phê thiệt không ngon, thậm chí không chấp nhận cái mới,
giống như không thích loại cà phê tôi mang về, cho dù biết rằng nó...nguyên chất.
Cứ để vậy, mặc kệ nó. Chẳng muốn thay đổi gì. Vẫn bình an vui vẻ thưởng thức những
ly cà phê đầy "chất độc" thân quen. Vì vậy mà Việt Nam có câu "sống
chung với lũ".
Có thể cũng đúng. Vì nhờ "lũ" mà vô số người dựa vào đó ăn nên làm
ra, do vậy họ chẳng muốn thay đổi. Mà còn hãnh diện với những gì đang có. Quen
thuộc không thể thiếu với những gì họ đang sống. Như đi biểu tình thì mang cờ đỏ
đi để "tăng khí thế", mà không nghĩ rằng khi chính cái lá cờ đó đã xô
đẩy họ tới đường cùng.
Vì vậy tôi chẳng muốn nói gì khi một người bạn khác kể những nơi ăn chơi, du hí
ở Việt Nam, và kết luận: bên Mỹ tụi mày chẳng ăn chơi bằng Việt Nam đâu. Mày
bên đó đi làm về ăn rồi ngủ không đi đâu, chứ đây cái gì cũng có. Tối nào tao
cũng có độ. Tôi cũng không hỏi là độ gì. Chắc cũng chỉ nhậu nhẹt và gái. Tôi
nghĩ thế.
Bất ngờ lòng
thấy vui khi thấy gần đây, đã có những quán cà phê "xịn" với không
khí ca nhạc đẹp chất nghệ sĩ, qua Facebook thấy quảng cáo của vài khuôn mặt trẻ
rang xay cà phê nguyên chất, đóng bao đẹp đẽ xinh xắn, giống như chủ của nó.
Nhưng chắc cũng chỉ cho một số nhỏ những người có tiền.
Hy vọng ngày nào đó, sẽ không còn cà phê "dởm". Hình như quán cà phê ở
Tây Ninh và Sài Gòn,có một điểm giống nhau, là họ để nhạc tình ca Phạm Duy, Trịnh
Công Sơn, Từ Công Phụng,Trần Thiện Thanh v,v,v. Không nghe thấy nhạc "dởm".
Tôi vẫn còn hy vọng.
"Một khi ta chọn hy vọng , bất cứ điều gì cũng có thể "
(Christopher Reeves)
Nguyễn Khôi
Việt
Sunday, March 5, 2017
Đến trường
Chào Em ngày
hội ngộ
Chào em áo trắng
đang vào lớp
chân sáo tung
tăng rộn khắp trường
thêm tiếng
con chim nào rất lạ
đậu trên cành
trúc hát vang vang
thương quá làm
sao thời tuổi ngọc
tóc mây vương
vãi suốt hồn thơ
nụ cười má lúm
càng mê đắm
khiến kẻ tình
si luống ngẩn ngơ
chào em áo trắng
ngồi trong lớp
tay ấp từng
trang giấy học trò
nhưng mắt ô môi
như muốn nói
long lanh hờn
dỗi rất ngây thơ
làm nhớ một
thời quen núp lén
sau lưng nhìn
trộm bước chân chim
tơ trời lại
ngỡ mùi hương ngọt
ướp mật vào
tim ngây ngất them
chào em áo trắng
giờ tan học
gót ngọc làm
mây vỡ cuối trời
phố nhỏ buồn
hiu chợt thức giấc
những hàng
phượng cũng vỗ tay vui
Chỉ chút hương xưa còn sót lại...
chào em áo trắng
ngày tao ngộ
sách vở, mộng
mơ đã xác xơ
chỉ chút hương
xưa còn sót lại
trong hồn thơ
chết khóc bơ vơ
chiều nay lạc
bước về trường cũ
lớp học hắt
hiu dưới nắng vàng
hoa phượng rơi
đầy vương trước cổng
trên hàng ghế
đá vắng em thương.
Mường Giang.
(Trich thi tập
:
Bất chợt bâng
khuâng nỗi nhớ nhà.2010. )
Tuesday, February 28, 2017
(Trang Thanh Trúc. Paris. 2015)
Vọng
Chị học nội
trú Couvent des Oiseaux Đà Lạt.
Ngôi trường nằm trên con dốc Huyền Trân Công
Chúa. Học sinh không gọi các ma-sơ là ma-sơ, mà gọi là mẹ.Tất cả các bà mẹ nơi ấy
đều đẹp và thánh thiện như thiên thần. Xung quanh trường ngoài mầu xanh lá của
thông còn có trồng một cây liễu. Học sinh mặc váy xanh dương đậm, áo sơ-mi trắng,
áo len cũng cùng một mầu xanh dương đậm. Người ta cho các con vào học nơi đây
vì kỷ luật rất gắt gao, vì kiến thức tốt, và chính xác hơn chắc là sự đào tạo
các cô công chúa bé nhỏ trở thành mệnh phụ phu nhân cho ngày mại.
Chị không phải
là người có đạo nhưng vẫn biết làm dấu Thánh Giá và đọc kinh Kính Mừng nhuyễn
nhừ. Chị cố gắng làm vui lòng gia đình bằng cách chăm chỉ học. Cùng lúc chị cố
gắng giấu giếm gia đình khi trái tim mình chân thành yêu một người lính Mỹ.
Chiến tranh
Việt Nam lúc ấy đang đến giai đoạn nóng bỏng. Người ta thông báo cho chị biết rằng
người lính ấy đã bị mất tích (có thể gần 99% đã thiệt mạng trong cuộc đụng độ vừa
qua). Chị không thể giấu giếm nỗi đau đớn ấy với gia đình lâu hơn nữa. Thay vì
chia sẻ nỗi buồn, gia đình cấm cản chị ở mọi sự tìm kiếm. Yêu ai chứ khi không
đi yêu một tên… lính Mỹ. Rồi còn đòi một hai, sống cả đời với hắn. Chuyện không
thể nào chấp nhận đươc. Còn đâu danh dự, danh giá của gia đình.
Thế là mọi người
tìm cách đưa chị sang Pháp du học.
Tình yêu đầu
đời của chị coi như khép lại từ đó. Nhưng nó không chết. Chị sống trong tuyệt vọng,
ước vọng, hy vọng, rồi lại rơi vào tuyệt vo.ng.
Chị lấy chồng, sanh con, rồi
gia đình lục đục phải đưa nhau ra tòa ly dị.
Phải mất bao
nhiêu chặng đường, phải trải qua bao nhiêu năm tháng, trái tim chị mới lấp lóe
được chút ánh sáng khi dừng chân trước đài Tưởng Niệm, bàng hoàng không tìm thấy
tên người yêu mình ghi khắc trên danh sách ấy.
Ba mươi lăm năm.
Dài hơn thế kỷ.] Nhưng nếu thật sự tin vào phép lạ thì phép lạ là đây, người
lính Mỹ năm xưa vẫn còn đây.
Bánh xe lăn
thời gian, không ngăn cách nổi hai người.
(Trang
Thanh Trúc . Paris)
Góc. Với Vọng..
Những cuộc tình thời chiến chinh thường nhận nhiều mất mát chia lìa và niềm vui, nếu có chỉ là những khoảng khắc vô cùng ngắn ngủi.
Tình yêu đầu đời luôn là mảng trời xanh bát ngát, nó có thể nhạt dần theo thời gian nhưng không hề tan biến trong trái tim ta. Nó luôn ngự trị ở đó. Mãi mãi . Vĩnh viễn. Có thể chúng ta sẽ già đi, nhưng những cảm xúc của tình đầu luôn đập nhịp nóng hổi, và , Nó chỉ ngủ yên đâu đó... Một giấc ngủ đông..
Nó luôn chờ phép lạ..
Và như em nói..bánh xe lăn thời gian, không ngăn cách nổi hai người.
Không hề. Phải không em ? Đôi khi chị thật sự tin vào điều đó..
Wednesday, February 22, 2017
ảnh : Linh Vang..
Cuối năm,
có gã thất tình
Quán Michaels ở gần trường đại học có
bán cà phê, bánh nhân, hamburger… và cả kem mở tới 2, 3 giờ sáng cho lũ sinh
viên thích ăn khuya. Tôi ở Commodore, học khuya đói bụng thường mò xuống tìm
cái gì có thể ăn được. Nhưng đêm nay tôi khỏe lắm, vì hết lớp, hết thi. Thấy
chàng ngồi một mình, mặt chàng nặng trịch. Tôi ngồi ở bên bàn này chưa hiểu
chuyện tưởng chàng vừa gãy cái final, tôi nhủ thầm, gãy thì làm lại, chớ có phải
gãy rồi đi lính đâu mà buồn vậy, ông bạn. Nghĩ rồi tôi cười, sau khi đưa mắt
nhìn lén chàng. Ngỡ là lén, ai dè bị chàng bắt gặp. Chàng cười lại vì tưởng là
gặp người quen. Quán về khuya chỉ có hai sinh viên Á Đông ngồi, đó là lý do
chàng mang ly cà phê lại xin ngồi cùng bàn. Cô và tôi chắc đã gặp nhau đâu? Tôi
lắc đầu, tôi không nghĩ vậy. Thế sao chúng ta lại cười chào nhau tưởng như là
quen biết? Tôi cười vì thấy ông buồn quá, chắc môn toán quan trọng? Chàng ngơ
ngác, môn toán nào? Chớ không phải ông bị gãy sao? Tôi dòm chừng phản ứng của
chàng. Mặt ông buồn xo như...cái bánh bao chiều! Chàng nói, có thi cử gì đâu,
tôi bị… bồ đá.
Người chi mà
thành thật quá. Đem chuyện kể hết cho người lạ nghe, người lạ là...tôi. Cô nàng
bắt cá hai tay –bây giờ chàng mới hay – hứa hẹn với chàng mà vẫn đi quen người
khác: anh chàng đó là bác sĩ vừa ra trường, ngon lành hơn chàng nhiều. Vờ kiếm
chuyện với chàng để có cớ thôi nhau. Mọi sự đã sắp đặt mà chàng nào có hay. Hai
tháng nữa, cô nàng đi lấy chồng. Đâu mà sẵn thế nếu cô đã không quen hai người
cùng một lúc? Người ta không muốn con gái của họ đi xa (theo chàng qua New
York), gặp ông bác sĩ trẻ này có phòng mạch ngay Seattle, bố mẹ anh ta lại danh
giá giàu có, dĩ nhiên là chàng thua tả tơi dù chưa đánh trận, chàng vô tình
trong suốt thời gian đó. Chàng trở về gặp nàng. Nàng không tiếp. Nì nài lắm mới
được nói chuyện trong phôn. Nàng không nhỏ một giọt lệ. Vì nàng đâu bị cha mẹ
ép uổng. Nàng khôn lanh, thực tế vô cùng. Giờ chàng mới hay. Gặp tôi, chàng
than chàng không hiểu nổi trái tim bọn con gái. Ừ, thì cha mẹ nào lại chẳng muốn
con mình sướng để phải tham phú phụ bần, chứ nàng tháng trước còn nói yêu chàng
tha thiết cơ mà. Trai thừa gái thiếu, nhiều chàng đi "cô–ốp" sáu
tháng về là mất bồ ngay, trừ phi chàng ta phải thật xuất sắc và lại hết mực chiều
chuộng cô nàng.
Họ đã quen
nhau được mấy năm. Chàng ra trường trước được việc ở bên New York. Nàng hứa sẽ
lấy chàng khi nàng ra trường, mong chàng kiên nhẫn đợi, đừng lăng nhăng với ai
khác. Mỗi tối cứ bên đó 11 giờ, bên này 8 giờ là chàng gọi cho nàng. Chàng kể
chuyện sở, nỗi cô đơn trong căn phòng trọ nhỏ bé. Cần một tiếng chim líu lo cho
lòng ấm cúng. Nàng là chim, là bóng nắng buổi sớm mai. Cần một bàn tay nhỏ nhắn
săn sóc bữa cơm cho chàng. Chàng ăn cơm hộp hâm nóng trong microwave. Tôi nghĩ
đàn ông con trai vậy là dở, ở xứ này ít nhất cũng biết nấu một bữa cơm cho
chính mình ăn chứ. Giữa lời kể, chàng cũng cho tôi biết.
–Tôi tốt nghiệp
từ trường này.
Tôi ngạc
nhiên, hỏi lại:
–UW?
Thì ra chàng
thuộc khóa đàn anh của tôi. Chàng gật đầu và kể tiếp. Nàng kể chuyện lớp học,
thầy cô, những kỳ thi học trối chết, thời tiết nắng mưa, Seattle mưa dầm dề, lạnh
lẽo, bầu trời lúc nào cũng chùng xuống xám xịt, những con bạn,...tuyệt nhiên
không bao giờ nàng hé môi một tí gì để chàng biết là có sự hiện diện của
"người ấy". Tôi nghĩ bụng, ai điên vậy mà đi kể cho chàng biết, nàng
đã có tính toán rồi mà.
–Tôi muốn nói
là rất sửng sốt. Rất bất ngờ!
Làm sao mà
không biết thái độ của người ta, dù là qua phôn. Mặt đối mặt, đồng ý là dễ rồi,
có thể dò biết được phản ứng. Giọng chàng rất buồn. Tôi nghĩ cô ta tự ý bỏ
chàng để theo anh chàng bác sĩ tương lai sáng rỡ hơn, buồn thương làm gì?
Chàng cứ kể
và tôi cứ ăn. Tôi ăn một cách tự nhiên. Vì đói bụng quá, và không hiểu sao lại
có cảm tưởng quen biết chàng đã lâu, nên tôi không làm dáng kiểu cách. Tuần lễ
final tôi chạy nước rút, bỏ ngủ quên ăn, khi nào đói quá thì mò xuống quán này
kiếm gì ăn bậy. Tôi tự hỏi không biết cô nàng bồ cũ của chàng có phải cũng đang
học thi không. Ai lại dại chọn lúc này để nói dứt khoát chứ. Tôi thì chả giỏi để
làm hai việc cùng một lúc. Đang học cũng chả dám liếc mắt đưa tình nữa chứ nói,
nhỡ lạng quạng thương phải chàng nào, rồi mộng học cao bị dang dở. Con chăm học,
mẹ mừng, nhưng mẹ tôi không khỏi lo, sợ học cao... đàn ông Việt không ai xứng
đáng rồi con của mẹ lại lấy Mỹ, lấy Tàu. Bà cứ hỏi dò tôi, bị tôi la, má lo gì
đâu không hà. Bà đi than với bà bạn làm chung sở thường hay đi ăn trưa với
nhau. Tôi run mà nó cứ tỉnh queo. Chẳng biết ý nó ra sao, cũng không dám hỏi.
Chuyến xe
buýt về khuya lặng lẽ ngừng sát lề đường đón người khách cuối cùng đang đứng đợi
ở chỗ bus stop trước quán. Tôi cũng vừa thanh toán xong muỗng kem dâu tây, sau
khi đã nuốt trọn cái double cheese hamburger. Chàng cũng đã ngừng kể. Ý chừng
chợt nhớ ai lại đi kể một chuyện riêng tư như thế cho một người lạ mặt nghe? Cứ
cho là câu chuyện tạm kết thúc ở đây? Chàng hỏi, lễ lộc có "về quê"
ăn Tết với gia đình không? Tôi nói tôi ở trong dorm đi học, còn gia đình thì ở
Olympia cách đây hơn một giờ lái xe. Olympia là thủ phủ của tiểu bang
Washington này.
“Về quê”, chữ
chàng dùng làm tôi nghĩ tới mấy cậu học trò ngoài Trung vào Saigon ở trọ học,
là anh em họ của tôi. Họ ở trọ nhà bà dì là mẹ tôi. Bây giờ thì tôi cũng đến
thành phố khác ở trọ trong cư xá của trường để đi học cho gần, cuối tuần hay lễ
lộc thì chạy về với gia đình.
Chàng còn lại
một tuần phép mà chưa biết sẽ làm gì. Buồn quá. Chàng lại than. Chàng cho biết
chàng không có gia đình ở bên này, còn kẹt lại VN. Hồi mới qua chàng ở đây với
gia đình ông chú. Bà thím đau tê thấp nên gia đình ông đã dọn về Cali ấm áp. Bạn
bè cũ của chàng đã theo công ăn việc làm đi tứ xứ. Người yêu cũ thuyền cập bến
khác như đã vừa kể. Chuyện tình thế là xong, chẳng còn gì. Cõi lòng trống trải
buồn tênh. Bước chân hụt hẫng. Những dự định tan theo mây khói. Ngọn sóng vô
tình vỗ mạnh vào bờ nhạt nhòa cuốn trôi dấu xưa.
Suốt buổi tôi
nghe nhiều hơn nói. Biết an ủi gì đây? Chưa yêu lần nào, tôi biết gì mà an ủi.
Mấy cái tình cảm nhẹ nhàng một chiều, một phương thuở mới lớn chỉ một sáng một
chiều là quên mất tiêu. Đâu dám cho là mình có kinh nghiệm tình trường. Chưa có
một trận gió tình yêu nào đủ làm tôi lao đao say ngất ngây quên đường về!
Seattle với những rặng thông dài, đồi núi chập chùng, mây trời xám xịt. Thành
phố mùa đông, mưa hoài, buồn hiu hắt. Tôi chưa ca với ai. Phố núi cao, phố núi
đầy vơi. May mà có anh, đời còn dễ thương. Tôi cứ tỉnh tỉnh cà ngơ tơ lơ mơ lo
ăn học.
Chuyện chàng
kể tôi nghe động lòng. Mẹ tôi từng than tôi hay lo chuyện thiên hạ, tính thương
người của tôi rồi sẽ làm tôi khổ. Hãy tưởng tượng cảnh chàng không nhà không cửa
(chàng ở tạm motel), không cha mẹ anh em vợ con vào những ngày cuối năm, biết về
đâu, về đâu. Không chừng lại thấy Greenlake hấp dẫn nhảy xuống chơi. Thiên hạ
kêu cứu. Trời mùa đông mau tối, nước hồ đen nghịt, chẳng tìm thấy chàng, người
ta hẹn sẽ mò tiếp vào sáng hôm sau? Xác chàng về đâu, trôi tấp nơi nào?
Tôi bỗng nảy
ra một ý định và nói ngay với chàng:
– Nếu anh
không ngại, Uyên mời anh về nhà Uyên ở Olympia chơi mấy ngày. Chỉ có má và mấy
đứa em nhỏ.
Đề nghị bất
ngờ này làm chàng sửng sốt. Chàng nói chàng không quen ai sợ làm phiền. Trước lạ
sau quen, phải không, với lại có Uyên mà, cứ coi như mình đã quen biết nhau.
Tôi cho là tôi đã cứu được một mạng người. Tôi hẹn gặp lại chàng ngày hôm sau
cũng ở chỗ này rồi cùng nhau về Olympia.
oOo
Thấy tôi thu
xếp áo quần (nói ra thì cũng xấu hổ quá: thu mớ áo quần đã mặc, đem về nhà má để
giặt!), đồ đạc, Thụy Du, bạn ở cùng phòng, hỏi, mày không ở lại dự văn nghệ cuối
năm ư? Tôi kể lý do. Nó không tin. Mày dẫn một tên con trai không quen biết về
nhà giới thiệu với mẹ và các em của mày? Tôi giải thích, thấy thì vậy mà không
phải vậy, cứ coi như tao đang giúp đỡ một người bất hạnh, một người đồng hương,
bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn mà. Nó cười
bĩu môi, mày ơi, mình con gái mình lo thân mình không xong, ở đó đi lo chuyện
buồn vui của người khác, mày dở hơi quá. Tôi cười, ai cũng nghĩ như vậy rồi
không ai giúp đỡ ai được sao, giả sử mày qua đây một mình không cha mẹ họ hàng,
bị người yêu đá cho một cái bịch, lang thang thất tình ở một quán hamburger nào
đó vào một đêm cuối năm mưa gió lạnh lẽo, gõ cửa xin ở nhờ, người ta đẩy mày ra
đóng sầm cửa lại (chàng có bằng cấp công ăn việc làm, không đói mà chỉ thất
tình thôi). Ở cảnh đó mày nghĩ sao, con ích kỷ?
–Vô duyên
chưa! Đương không lại mắng người ta. Đủ rồi nha nhỏ. Tao chỉ buồn là văn nghệ
không có mày mất vui. Sợ không có mày thằng Tú nó đánh đàn không nổi. Công nó tập
dượt mày hát mấy tuần nay.
–Không có tao
hát thì có đứa khác hát. Ai mướn mày lo!
–Mày hứa với
nó…
Ừ, thì trước
đây tôi có hứa với Tú là tôi sẽ hát vài bản, nhưng bây giờ chuyện không tính mà
lại xảy ra, thì tôi phải thay đổi chương trình chứ. Tôi năn nỉ:
–Mày nói khéo
giùm tao đi! Cái miệng Bắc Kỳ của mày lanh (và dẻo!)
–Thôi đi! Mày
hứa cuội rồi bắt tao phải gánh. Tao không làm đâu! Nhất định không làm!
Nói thì nói vậy
nhưng rồi Thụy Du cũng hứa là sẽ nói sao cho Tú khỏi giận tôi. Cứu bồ lần này nữa
thôi nhé.
oOo
Thời gian ngắn
ngủi Kha ở chơi đủ để mọi người trong nhà tôi...chấm chàng cho tôi. Từ má tôi,
tới thằng em với mấy con em. Má tôi nói cái thằng hiền. Tôi cười thầm, hiền? Khờ
thì đúng hơn. Bị đá rồi mới hay. Má nấu nướng những món ăn ngon, săn sóc chàng
như con. Cả nhà đều biết chuyện chàng vừa bị bồ bỏ, không ai biết cái cô Khánh
Vân nào đó nhan sắc nghiêng nước đổ thành như thế nào, chứ mọi người đều nghe
tiếng về ông bác sĩ đẹp trai, con nhà giàu có. Vậy mà cứ xúi tôi chịu đi...dù
tôi mới biết chàng chỉ... vài ngày. Nhỏ em kế dạy đời, vết thương nào rồi cũng
lành, với thời gian tình nào rồi cũng quên, bộ chị tưởng anh Kha sẽ ở vậy mãi để
khóc cho một mối tình dang dở hay sao...chị khờ ơi là khờ. Chị không nhìn thấy
sao, ảnh đâu có vẻ gì thất tình da tái mét, má hóp, mắt thâm quầng, râu ria ra
rậm rạp đâu?
Hôm chàng về
New York, chàng và tôi đều bịn rịn. Dù vậy, tôi vẫn phủ nhận sự việc là tôi có
thích chàng. Vẫn cố nghĩ là tôi đã làm một việc nghĩa, cứu rỗi một con tim đang
bị rướm máu, thế thôi. Những cú phôn viễn liên xuyên những tiểu bang mới đầu là
những câu thăm hỏi thông thường rồi thành những thân thiết gần gũi hơn mỗi
ngày. Rồi không biết duyên số đưa đẩy thế nào mà một năm sau cái anh chàng thất
tình đó đã trở thành… ông chồng của tôi. Chàng đã nói yêu tôi trên phôn và hỏi
tôi có chịu...nâng khăn sửa túi cho chàng không cũng… trên phôn. Dĩ nhiên là
chúng tôi sống hạnh phúc, như truyện cổ tích ngày xưa.
Thỉnh thoảng
chàng cười hỏi:
–Sao em dám
đưa một tên con trai lạ về nhà..?
Tôi thành thật
trả lời:
–Cũng chẳng
hiểu tại sao nữa. Nghĩ lại thời buổi này, thật nguy hiểm. May mà gặp anh… đàng
hoàng. Em sẽ không khuyên các cô… kiếm chồng bằng kiểu này đâu.
Linh Vang.. ( trích trong tạp chí văn học nghệ thuật :Văn Hữu)